tháng 6 2018



"THIÊN CHÚA, NGƯỜI CHĂN CHIÊN NHÂN LÀNH"
TRONG NGHỆ THUẬT CÔNG GIÁO 


Hình ảnh Chúa Giêsu với con chiên hiền lành trên vai hay trên tay, hay hình ảnh Chúa Giêsu đứng giữa đàn chiên ngoan ngoãn bình yên nơi đồng cỏ, trong khi, hiện diện khá phổ biến trong các hình thức nghệ thuật công cộng (Public Art)-như tranh ghép kiếng, tranh khảm đá ở các nhà thờ-hay trong các hình thức nghệ thuật đại chúng (Popular Art)-như các loại tiểu họa (icon) ngày xưa và các loại tranh in ngày nay-thì lại, có vẻ như, rất ít được các nghệ sĩ “tên tuổi” quan tâm. Số lượng tác phẩm thực sự đặc sắc về chủ đề này khá hiếm hoi. Rà soát lại toàn bộ lịch sử nghệ thuật Công giáo, kể từ thời Giotto (1267-1377) cho đến nay, về chủ đề này, nổi tiếng, chỉ có vài tác phẩm của Mirullo (1617-1682) và Tissot (1836-1902).

Tại sao có sự hiếm muộn như vậy?

Câu hỏi này đã từng được đặt ra nhưng chưa bao giờ được trả lời thỏa đáng. Ở đây, tôi chỉ ghi chú về mặt hiện tượng. Tôi sẽ trở lại với vấn đề này trong các bài viết khái quát về sự vận động phát triển của nghệ thuật Công giáo dựa trên các phát kiến Mỹ học Thần học (Theological Aesthetics) hiện đại hơn, sau khi đã giới thiệu một cách tương đối đầy đủ các tác phẩm tiêu biểu ở các chủ đề tiêu biểu của nghệ thuật Công giáo…

Trước mắt, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu hai tác phẩm được biết đến nhiều nhất về chủ đề đang được đề cập của hai họa sĩ nổi tiếng nói trên.

Murillo, (tên đầy đủ: Bartolomé Esteban Murillo), được xem là họa sĩ Tây Ban Nha nổi tiếng nhất ở châu Âu đương thời. Ngoài mảng tranh đề tài Công giáo thành công nổi bật với các tác phẩm vẽ Đức Mẹ Maria đầy vẻ thanh thoát, dịu hiền, những bức tranh vẽ các em bé nghèo khó trên đường phố thể hiện tình cảm vừa yêu thương vừa tin cậy của ông cũng đã gây xúc động lớn trong lòng người xem. Người ta đã nói nhiều về ông như một họa sĩ bậc thầy trong việc chuyển tải các cảm xúc trữ tình siêu hình thông qua các hình ảnh cụ thể, chân thực bằng cách thể hiện ánh sáng tinh tế với bảng màu nồng ấm. Và, chính sự nhẹ nhàng, trong sáng trong cách nhìn (đối tượng) và cách thể hiện nghệ thuật đã khiến cho tác phẩm của ông có sức quyến rũ lớn chinh phục tình cảm người xem…

Tác phẩm “Thiên Chúa-người chăn chiên nhân lành” được ông vẽ năm 1660, là tác phẩm nổi tiếng đương thời và được biết đến nhiều nhất cho đến ngày nay. Trong tác phẩm, ông thể hiện Thiên Chúa trong hình ảnh một em bé trong bộ đồ hồng nhạt trong sáng với gương mặt bụ bẩm và đôi mắt tròn xoe vừa ngây thơ vừa đầy vẻ cương nghị. Bên cạnh là chú cừu non màu trắng ngà có dáng dấp điềm tĩnh, hiền lành. Người ta đã nói nhiều về ý nghĩa của hình ảnh trẻ thơ khi thể hiện Thiên Chúa trong tác phẩm này của ông. Với tác phẩm này, dường như, ông đang thể hiện một cách hiểu siêu hình về Thiên Chúa ở tư cách là “Chủ chăn”. Cách hiểu này chuyển hóa hình ảnh Thiên Chúa, và mang chúng ta lại gần hơn với Thiên Chúa, nhớ lại Lời Chúa: “Cứ để trẻ em đến với Thầy đừng ngăn cản chúng vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng” (Mt 19,14). Hình ảnh một ngôi đền cổ đổ nát trên nền bầu trời xanh tươi mát làm bối cảnh trong tranh dường như cũng được vẽ với chủ ý nhất định. Nó gợi cảm tưởng về một sự tái thiết và hy vọng…




Tác phẩm này của Murillo hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Prado ở Madrid, Tây Ban Nha.

Có lẽ cũng nên nói thêm một ít về Murillo: Ông là người sáng lập ra Viện Hàn lâm Nghệ thuật Seville (“Academy of Fine Arts in Seville”-Seville là tên quê hương, nơi ông ra đời) năm 1660, và là chủ tịch đầu tiên. Với Viện Hàn lâm này, ông đã tạo nên một ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của nghệ thuật Công giáo ở Tây Ban Nha cho đến mãi sau này.

Người thứ hai, Tissot (tên đầy đủ: James Tissot) có thể xem là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử nghệ thuật Công giáo hiện đại. Ông là họa sĩ người Pháp, học tại École des Beaux-Arts ở Paris. Suốt mấy chục năm đầu, ông được biết đến như một trong những họa sĩ tiêu biểu của trào lưu Ấn tượng chủ nghĩa (Impressionism)-hướng đến vẻ đẹp của thiên nhiên, của hình ảnh phụ nữ và trang phục thời trang...(2) Tuy nhiên, trong khi đang nổi tiếng với những tác phẩm diễm lệ đời thường đó, như “đi theo một tiếng gọi thiêng liêng”, từ năm 1886, ông hầu như dứt bỏ tất cả, để dành gần như toàn bộ quãng đời còn lại để vẽ tranh Thánh. Trong các năm 1886, 1889, 1896 ông đã nhiều lần qua Trung Đông tìm hiểu, ghi chép thực tế hình ảnh cảnh quan và con người… để thực hiện bộ tranh minh họa Kinh Thánh đồ sộ của mình. Cho đến khi qua đời, ông đã vẽ được gần 700 tác phẩm, trong đó, bộ Tân Ước với 365 tranh vẽ bằng màu nước có tên “Cuộc đời Đức Kitô” đã hoàn chỉnh. Đây là bộ tranh vô cùng nổi tiếng, và tất cả, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Brooklyn, New York, Hoa Kỳ. Ngay từ 1896, 1898 bộ tranh này đã được in thành sách và phát hành rộng rãi ở các nước nói tiếng Anh và tiếng Pháp. (3)



Tác phẩm “Người chăn chiên tốt” giới thiệu ở đây, là được rút ra từ bộ tranh minh họa nổi tiếng này của Tissot.

Nhìn tranh, chúng ta dễ dàng nhận biết họa sĩ đang diễn tả dụ ngôn “Con chiên lạc mất”- một trong chuỗi ba dụ ngôn của Chúa Giêsu nhằm trả lời những người Pharisee và những lãnh đạo tôn giáo khác khi họ kết án Người: “đón chào kẻ có tội và ngồi ăn với họ”-trong Kinh Thánh Tân Ước. Tác phẩm thật sinh động với hình ảnh người chăn chiên hớn hở cõng chú chiên đi lạc và đã được tìm thấy trên vai nơi vách đá cheo leo để lại đằng sau lưng phía xa kia những con chiên ngoan hiền còn lại của mình. Cái chỗ đứng, cái dáng dấp và thần thái chân dung nhân vật được thể hiện đã mang lại cho người xem cảm nhận về tinh thần tận tuỵ, tâm hồn đôn hậu và tình cảm yêu thương chân thành nơi người chăn chiên. Sự sống động của bức tranh có sức mạnh như đã làm sống lại Lời Chúa nơi mỗi người xem: “Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất.” (Matthew 18:12-14)

Điều cần nói ngay, hai tác phẩm nói trên, tuy là hai tác phẩm nổi tiếng nhất với chủ đề “Thiên Chúa, người chăn chiên nhân lành” và có một vị trí nhất định trong thế giới nghệ thuật Công giáo, nhưng sự thực, chỉ có vị trí hết sức khiêm tốn trong lịch sử nghệ thuật nhân loại. Chúng không phản ánh hết tài năng của các tác giả, và xa lạ với tinh thần thời đại (khi chúng ra đời). Điều này có căn nguyên mỹ học và có quan hệ đến một số vấn đề thần học. Sẽ không thực tế nếu đòi hỏi một sự phân tích thấu đáo ngay ở đây. Như đã nói ở đầu bài, tôi sẽ quay lại vấn đề này sau khi đã điểm qua tương đối đầy đủ các tác phẩm tiêu biểu với các chủ đề tiêu biểu của nghệ thuật Công giáo.


(Bài đã in trong sách Nghệ thuật Công giáo-tập 1)




Một trong các lời than phiền mà người Công giáo chúng ta nghe được từ người khác là Thánh Lễ nhàm chán lắm. Có thể thi thoảng chính chúng ta cũng nghĩ như vậy. Người ta than rằng họ không được gì khi tham dự Thánh Lễ. Đôi khi chúng ta quên rằng Thánh Lễ không quá nhiều về chúng ta vì Thánh Lễ là chúc tụng và thờ phượng Thiên Chúa. Đó không là cách chúng ta cảm nhận.

Thật vậy, cảm xúc của chúng ta là nguồn sự thật và thực tế bất kham không đáng tin. Chúng thay đổi từng ngày và ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố ngoại tại và nội tại. Đừng cho rằng ma quỷ luôn tìm cách kéo chúng ta xa rời Thiên Chúa bằng cảm xúc và sự tưởng tượng của chúng ta. Thiên Chúa cũng chẳng như cảm xúc của chúng ta. Nếu chúng ta dành quá nhiều thời gian tập trung vào cách chúng ta cảm nhận, chúng ta sẽ thấy mình tôn thờ cảm xúc của mình chứ chẳng tôn thờ Thiên Chúa.

Tất cả chúng ta sẽ trải nghiệm những lúc mà các vị linh hướng gọi là sự phiền muộn và sự an ủi. Chúng ta sẽ dành nhiều thời gian chú ý tới sự phiền muộn hơn là sự an ủi khi Thiên Chúa muốn tẩy rửa và giải thoát chúng ta khỏi dính líu những thứ trần tục, kể cả việc đặt cảm xúc ở trung tâm cuộc đời của chúng ta. Nếu không được kiểm soát, cảm xúc sẽ dẫn chúng ta vào con đường lầm lạc và thậm chí là nguy hiểm. Đó là sự thật khách quan về đời sống hằng ngày, nhưng nó cũng gắn liền với cách chúng ta hiểu biết về Thánh Lễ. Chúng ta không là trung tâm của Thánh Lễ, chính Đức Kitô mới là trung tâm của Thánh Lễ.

1. CHUẨN BỊ THÁNH LỄ

Một trong những khó khăn mà tất cả chúng ta đều đối mặt trong nhịp sống ngày nay là KHÔNG DÀNH THỜI GIAN ĐỂ CHUẨN BỊ CHO THÁNH LỄ ĐÚNG MỨC. Chúng ta vội vàng đi lễ, nhiều người tới nhà thờ thì Thánh Lễ đã bắt đầu, có khi đã đọc sách thánh xong, rồi chia trí đủ chuyện và cảm xúc mơ hồ. Mục đích của Thánh Lễ là đưa chúng ta vào mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi – đặc biệt là qua sự sống, sự chết, và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Thánh Lễ đưa chúng ta vào mối quan hệ kết hiệp với Thiên Chúa và tha nhân trong Đức Kitô để chúng ta có thể đi vào thế giới và loan báo Tin Mừng. Thánh Lễ còn là dịp chúng ta chia sẻ sự hy sinh của Đức Kitô qua việc dâng của lễ – qua thừa tác viên linh mục – và dâng sự hy sinh của chúng ta lên Thiên Chúa qua bí tích Thánh Thể. Trời và đất gặp nhau trong Thánh Lễ. Theo nghĩa đen, chúng ta đặt một chân lên mặt đất và một chân bước vào cõi vĩnh hằng mỗi khi tham dự Thánh Lễ.

Cần phải nuôi dưỡng thói quen tốt đối với Thánh Lễ để khi có những lúc khô khan (không thể tránh) thì chúng ta có thể kiên trì và không rơi vào tình trạng chán nản hoặc thất vọng. Chúng ta phải học cách giữ thinh lặng trong tâm hồn và ngoài thể lý. Hãy nhớ rằng cả nội tại và ngoại tại đều là vấn đề và liên quan lẫn nhau. Đó là lý do Giáo Hội biết rõ khi nhấn mạnh về vẻ đẹp của các dạng, nhất là trong Thánh Lễ. Đó là lý do bí tích Thánh Thể được Chúa Giêsu thiết lập vừa là hữu hình vừa vô hình. Chúng ta có xác hồn nên chúng ta xử lý với thân xác và các cảm nghiệm thực tế, đó là vừa vật chất vừa tinh thần. Đó cũng là lý do chúng ta đối mặt với nhiều chước cám dỗ tập trung vào thể lý khi điều khiển tinh thần.

2. VÀO CÕI TĨNH LẶNG

Chính sự thinh lặng không có nghĩa là một dạng tự hành hạ mà chúng ta muốn để duy trì sự tĩnh lặng thể lý, tâm trí và linh hồn trong suốt Thánh Lễ. Hơn nữa, đó là cách sắp xếp đời sống tâm linh để chúng ta được bình an. Khi sự tĩnh lặng này bao phủ, chúng ta có thể nghỉ ngơi trong Chúa và tham dự vào những mầu nhiệm. Điều này không dễ đạt được, cần phải cầu nguyện và kỷ luật. Chúng ta sống trong thời đại bận rộn, vội vã, có thể khó hoặc có vẻ không thể tìm được sự tĩnh lặng trong cuộc sống hàng ngày. Để có thể thinh lặng trong Thánh Lễ, chúng ta phải tập luyện giữ thinh lặng mỗi ngày. Hằng ngày, hãy dành vài phút để cầu xin Chúa làm cho chúng ta tĩnh lặng trong tâm hồn, rồi tâm trí sẽ cho phép chúng ta đi vào cõi tĩnh lặng sâu thẳm khi chúng ta tham dự Thánh Lễ.

Trong cuốn “Meditations Before Mass” (Suy Niệm Trước Thánh Lễ), tác giả Romano Guardini giải thích về sự cần thiết của sự tĩnh lặng: “Con người sinh sống, và động vật di chuyển; sự tuân thủ từ bên ngoài không ngưng nghỉ. Vì thế, sự tĩnh lặng vẫn còn, và nó chỉ xuất hiện khi nó được mong muốn. Nếu chúng ta đánh giá cao sự tĩnh lặng, nó sẽ đem niềm vui đến cho chúng ta; nếu không thì chỉ là sự khó chịu… Hơn nữa, sự tĩnh lặng không nên hời hợt, vì khi đó sẽ có tiếng nói hoặc sự lúng túng; tư tưởng, cảm xúc, tâm hồn cũng phải tìm được sự nghỉ ngơi. Rồi sự tĩnh lặng đích thực sẽ thấm sâu vào chúng ta, lan tỏa ra xung quanh”.

Sự tĩnh lặng đem lại bình an và niềm vui, giúp chúng ta giao tiếp với Thiên Chúa ở mức sâu rộng hơn. Sự tĩnh lặng đưa chúng ta vào những nơi bí ẩn trong chúng ta để chúng ta có thể khám phá Ngài. Thánh Lễ là thời gian chúng ta có thể hiểu các bí ẩn mà chúng ta chưa biết và được bổ dưỡng bằng Mình Máu Thánh Chúa. Các bí ẩn này mang ý nghĩa và cách hiểu mới hơn nếu chúng ta có thể duy trì sự tĩnh lặng trong đời sống của chúng ta.


3. THAM DỰ THÁNH LỄ

Để có thể giữ thinh lặng trong Thánh Lễ, chúng ta cần đến nhà thờ sớm. Rất nhiều người đến nhà thờ vội vã, chia trí, kích động, chán nản, hoặc mệt mỏi. Những người có con nhỏ đều biết rằng đó có thể là cuộc đấu tranh thực tế để giục người khác đi lễ đúng giờ. Đến nhà thờ sớm vài phút cho chúng ta cơ hội cầu xin Chúa thanh tẩy lòng trí khỏi mọi điều lo lắng. Điều đó có vẻ như không thể, nhưng chúng ta có thể đạt được khi kiên nhẫn với đứa con đang trườn bò lên mình nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Hãy cố gắng thực hành và kiên nhẫn!

Đời sống tâm linh là nuôi dưỡng những thói quen tốt lành và cần có thời gian. Hãy kiên nhẫn với chính mình, nhưng hãy cố gắng đến nhà thờ 5-10 phút trước giờ lễ. Tác giả Romano Guardini giải thích: “Trước hết, chúng ta phải tới nhà thờ sớm để chuẩn bị tâm hồn. Chúng ta phải loại bỏ ảo tưởng về tình trạng của mình khi bước vào nhà thờ; chúng ta phải can đảm đối mặt với sự bồn chồn, sự lẫn lộn và sự rối loạn của chúng ta. Nói một cách chính xác, chúng ta chưa thực sự hiện hữu là những con người – không phải như con người mà Thiên Chúa nói, mà luôn hy vọng cách đáp lại phù hợp với mình. Chúng ta là những bó cảm xúc, tưởng tượng, ý tưởng, và các kế hoạch khác. Điều cần làm trước tiên là thinh lặng và tập trung. Chúng ta phải thành thật nói rằng tôi đang ở đây, và chỉ có một điều tôi cần làm là tập trung vào điều duy nhất: tham dự Thánh Lễ. Tôi hoàn toàn sẵn sàng”.

Sự chia trí và cuộc chiến tâm linh có thể là phương diện khó tránh khỏi về Thánh Lễ đối với đa số chúng ta, vì chúng ta chưa thực sự là “bậc thầy” về lĩnh vực tâm linh. Khi chúng ta cảm thấy bồn chồn áy náy, chúng ta phải tự cố gắng tập trung mỗi khi tham dự Thánh Lễ. Đối với đa số chúng ta, điều này xảy ra khá thường xuyên, nhưng theo thời gian, tình trạng đó sẽ biến mất khi chúng ta sống có kỷ luật.

Tôi thấy rằng tôi cầu xin Đức Mẹ kéo tôi gần với Mẫu Tâm Vô Nhiễm trước mỗi Thánh Lễ là việc làm hữu ích khi đấu tranh với các tư tưởng lan man, chước cám dỗ, hoặc những điều làm chia trí khác. Thật tốt lành, nhà thờ giáo xứ tôi có tượng Đức Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá, thế nên tôi có thể chú ý tới Đức Mẹ khi tôi cảm thấy khó giữ tĩnh lặng.

Khi chúng ta nhận thấy mình tiến bộ trong sự tĩnh lặng về thể lý và tâm hồn, chúng ta không còn thấy khó tập trung nữa, nhất là tập trung vào chính mình (vì có người cứ quay ngang quay dọc xem có ai nhìn mình không, rồi vuốt tóc, chỉnh áo quần,...). Thánh Lễ sẽ không còn nhàm chán, không còn cảm thấy lâu, không còn cảm thấy thời gian nặng nề trôi qua. Cách sắp xếp nội tâm của chúng ta có nhiều điều cần làm đối với nhận thức của chúng ta về Thánh Lễ. Rất nhiều người than phiền về Thánh Lễ, họ không làm được những việc cần đối với Chúa trước Thánh Lễ. Điều này không nghĩa rằng chúng ta không có những ngày tồi tệ.

Nhiều lần chúng ta không cảm thấy thoải mái, bị căng thẳng nhiều, hoặc mệt mỏi, nhưng khi nuôi dưỡng thói quen giữ tĩnh lặng, chúng ta có thể tập trung vào Thiên Chúa. Không phải lúc nào chúng ta cũng cảm thấy thoải mái khi đi lễ. Thật vậy, có thể có những lúc chúng ta khô khan nguội lạnh hoặc cảm thấy trống rỗng khi cố gắng bám vào Thập Giá để sống tốt hơn. Chắc chắn được nghỉ ngơi trong những lúc khó khăn và những lúc bình an, Chúa Giêsu vẫn nuôi dưỡng chúng ta bằng Lời Ngài và bằng Mình Máu Ngài để lôi kéo chúng ta vào sâu trong tình yêu và lòng thương xót vô biên của Ngài.

CONSTANCE T. HULL
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu – 2018


Đừng Lo, Có Chúa!

“Đừng lo con ạ, mọi sự đã có Chúa lo rồi ”, đó là câu nói cửa miệng của ba mỗi lúc tôi gọi điện về nhà. Nhắc về ba tôi luôn không giấu nổi niềm tự hào với chúng bạn rằng mình có một người ba tuyệt vời. 


Ngay từ nhỏ anh chị em chúng tôi đã được ba vun đắp niềm tin mãnh liệt vào Chúa, ba nhắc nhở mọi người trong nhà đi nhà thờ đọc kinh, lần hạt, phải có lòng thương giúp đỡ người nghèo. Và những lời dạy của ba luôn đi kèm với hành động. Ba là người luôn có mặt ở nhà thờ trước, đi đâu ba cũng lần hạt, gặp người nghèo khi thì ba cho ít tiền, mời họ về nhà dùng bữa cơm. Tôi còn nhớ lần ba đưa về một bà cụ người đồng bào đi lạc, ba chăm sóc, cho ăn uống rồi bảo mẹ tôi đi lấy đồ áo cho cụ, cho cụ ngủ nghỉ ở nhà rồi ba lại tất tả chạy vào vùng dân tộc để tìm người thân cho cụ. Lần khác ba lại đưa về một người ăn xin mặc mặc kệ mùi hôi bốc ra từ người ăn xin đó, ba chuẩn chị giường ngủ, lo cơm ăn cho cụ. Mong ước của ba tôi luôn hướng về người nghèo. Nhà tôi chưa có tủ lạnh, máy giặt, anh chị bảo góp tiền để mua, ba tôi cản lại và nói: “Tụi bây lấy tiền đó cho ba, ba đưa người nghèo đi”. Thế là hết lần này đến lần khác, nhà tôi mới mua sắm được mấy thứ đó. 

Nhiều người bảo ba thích chuyện bao đồng, ba chỉ cười. Ba tôi làm bạn với những bợm nhậu, những người nghèo và những thành phần bất hảo. Ba bảo với tôi: “ Ba hòa nhập nhưng không hòa tan với họ”, ba lựa lời nói chuyện với họ, đôi khi chỉ là chuyện phiếm nhưng luôn nhắc nhở họ tu chí làm ăn. Ai nói gì mặc kệ, làm việc cho giáo hội, bị nhiều người hiểu lầm ba cũng chỉ biết im lặng và dâng tất cả cho Chúa. 

Vì lo chuyện “ bao đồng” nên ba cũng hay bị mẹ phàn nàn, trách móc nhưng ba “ mãi vẫn thế”. Tôi thương ba tôi! Nghĩ về ba là bao nhiêu kỷ niệm đầy yêu thương cứ ùa về, ba ít khi thể hiện tình cảm nhưng chỉ cần nhìn hành động của ba là tôi biết ba yêu chúng tôi đến nhường nào. Tôi làm sao quên được hình ảnh ba đứng chờ anh trai, rồi em trai ngoài cổng suốt đêm vì anh mải chơi chưa về. Ba nhiều đêm thức trắng vì lo cho chúng tôi, có những lần đợi chúng tôi ngủ, ba lại rón rén vừa cầm tràng hạt lần chuỗi vừa ngắm nhìn chúng tôi, kéo góc chăn đắp lại. Tôi giả vờ ngủ vì sợ ba giật mình. 


Rồi lúc tôi còn ở nhà, ba thường là người dậy nấu cơm nước cho chúng tôi. Ba nấu ăn rất ngon, những món ăn của ba đều mang một hương vị rất riêng đặc biệt. Những lần anh chị em chúng tôi về quê, ba lại là người đi đưa đón. Có lần ba chở tôi về, ba vòng tay ra sau ôm lấy tôi và bảo: “ Chui vào áo cho đỡ lạnh con”. Rồi trên đường về ba cố chạy chậm lại cho gió đỡ thổi buốt. 

 Năm tôi thi tốt nghiệp 12, khi kết thúc môn cuối cùng, ra tới cổng trường, ba đứng bên kia đường vẫn tay cho tôi. Tôi nhìn ba mà rưng rưng nước mắt, nhìn chiếc xe cà tàng với chiếc giỏ trên xe, thấy thương ba vô cùng. Ngồi lên xe, ba hỏi tôi thi cử thế nào, có mệt không? Tôi hỏi sao ba lại ra đây, ba bảo ba mới đi bán dứa rồi chờ con về luôn, lúc đó tôi đã khóc. 

Ngày còn nhỏ, tôi ít nói chuyện với ba, thâm chí là cố gắng trốn tránh mỗi khi có thể. Với trí óc non nớt tôi không đủ để hiểu được tình thương của ba dành cho tôi, thay vào đó tôi thường trách móc và hờn dỗi vì mỗi lần bị ba đánh, ba la. Đến khi lớn lên, rời khỏi gia đình để đi học xa, tôi mới cảm nhận được rõ rệt tình thương của ba dành cho tôi. 

Gia đình tôi có giai đoạn phải trải qua rất nhiều chuyện và ba là người gánh vác tất cả. Lần đầu tiên tôi thấy ba khóc đó là lúc chị cả mất, ba ôm chặt cỗ quan tài đau xót. Anh chị em tôi chỉ biết khóc, nỗi đau của chúng tôi không thấm với nỗi đau của ba. Mãi về sau này, mỗi lần ba nói chuyện với tôi lại nhìn ra khu vườn đầy cây trái và nhắc về chị cả. Tôi biết ba nhớ chị lắm.

Đối với anh chị em chúng tôi, ba không những là người ba đầy trách nhiệm mà còn là thầy dạy đức tin cho chúng tôi, là người bạn để mỗi khi chúng tôi mệt mỏi, lo lắng bất an, ba lại xuất hiện như vị cứu tinh, an ủi và động viên chúng tôi đặt niềm tin, phó thác vào Chúa.

Maria Hưởng Nguyễn
Nguồn: Bản tin online tháng 6/2018 của Ủy ban Giới trẻ và Thiếu nhi - Hội đồng Giám mục VN



Hỏi: Xin cho con hỏi, tại sao lại có nhiều tôn giáo cùng tồn tại đến như vậy, và giữa rất nhiều tôn giáo (Hội Thánh Đức Chúa Trời Mẹ gì đó cũng tự xưng là tôn giáo), làm sao chúng ta biết đâu là tôn giáo thật? Trước hàng loạt những vấn đề nhức nhối liên quan đến tôn giáo hiện nay, cha/thầy có suy nghĩ gì không? Con xin cảm ơn.



Trả lời:

Chào bạn,

Những nghiên cứu của lịch sử cho chúng ta biết rằng từ rất lâu, khi con người vừa xuất hiện, thì tôn giáo cũng đã ra đời. Ban đầu, có thể do hoàn cảnh tác động. Người xưa thấy mình quá nhỏ bé trước các sức mạnh của tự nhiên nên tự phong thần cho chúng (thần mây, thần mưa…). Nhưng khi trình độ hiểu biết của con người đã đạt đến những đỉnh cao vượt bậc, tôn giáo vẫn cứ tồn tại, và thể hiện ở một mức độ cao sâu hơn. Có không ít những nhà bác học, nghiên cứu khoa học đại tài là những người theo tôn giáo. Điều đó cho thấy, sự hiện diện của tôn giáo phản ánh một trực giác thiêng liêng của con người. Nó là cái ở bên trong con người bộc phát ra, chứ không phải bị áp đặt từ bên ngoài. Con người và niềm tin luôn đi đôi với nhau. Chẳng ai sống mà có thể không tin cái gì đó, kể cả những người tự xưng là vô thần.

Các nhà tâm lý học cũng đồng ý với nhau rằng nhu cầu tâm linh là một trong những nhu cầu của con người, và chính nó cũng là một trong những yếu tố làm cho con người khác với các giống loài khác. Trong tất cả các sinh linh hiện diện trên đời này, chỉ có con người là có tôn giáo. Hay nói cách khác, chỉ con người là có trực giác về một thế giới khác, vô hình, cao hơn mình, huyền nhiệm hơn mình, cái mà mình không thể chạm sờ trực tiếp bằng vật chất đơn thuần. Con người là loài duy nhất có thể tương tác với sự huyền bí thâm sâu vượt ra ngoài thế giới hữu hình. Bởi tôn giáo vốn dĩ gắn liền với những điều ta không thấy, nên ta vẫn thấy đâu đó những nhóm người giả danh tôn giáo, truyền dạy những điều sai lạc, làm ảnh hưởng đến thanh danh của những tôn giáo chân chính, đến cuộc sống của người khác và cũng đồng thời huỷ hoại cuộc sống của chính họ.

Vậy căn cứ vào đâu mà chúng ta có thể phân biệt giữa tôn giáo chân chính và tôn giáo giả tạo?
 Sẽ có nhiều tiêu chí, nhưng chắc là nhiều người sẽ đồng ý với ba điểm này.
Trước hết, một tôn giáo chân chính sẽ có một nền tảng giáo lý vững chắc, có căn cứ, được lý trí kiểm chứng, chứ không bao giờ chủ trương một kiểu giáo lý mơ hồ, sai lạc. Một tôn giáo chân chính không tự mình bịa ra giáo lý, nhưng lãnh nhận nó từ Thần của mình và chia sẻ nó với người khác trên cơ sở tôn trọng tự do của người đó, chứ không ép buộc họ phải tin giống mình.
Thứ đến, giáo lý đó, dù có thể có nhiều điểm huyền nhiệm khiến mình chưa thể hiểu hết, nhưng chắc chắn nó không bao giờ huỷ hoại cuộc sống hiện tại của tín hữu. Nó dạy người ta yêu thương nhau, phục vụ nhau, nối kết người ta với nhau trong tình thân ái, chứ không bao giờ gây chia rẽ hay thúc đẩy người ta đến chỗ đi ngược lại với luân thường đạo lý hay truyền thống tốt đẹp.
Cuối cùng, tôn giáo chân chính sẽ sinh ra những chứng tá sống động và tốt đẹp cho đời. Từ tôn giáo ấy, sẽ xuất hiện những con người với lối sống khiến người đời phải cảm phục vì những nhân đức anh hùng của họ. Đó là những con người đã sống giới luật yêu thương đến mức độ trỗi vượt, họ làm được những điều cao cả, phi thường qua cung cách hành xử và cuộc sống của họ luôn toát lên một niềm vui tự tâm, đồng thời cũng lan truyền nó đến cho người khác.

Trong thời gian gần đây, Giáo Hội và xã hội Việt Nam đối diện với nhiều cuộc tấn công, từ sức lan tràn gây biết bao thương tổn của cái gọi là Hội Thánh Đức Chúa Trời Mẹ, đến những tranh chấp đất đai tôn giáo, rồi cả những hoạt động nghệ thuật bị cho là xúc phạm đến tín ngưỡng của tín hữu Kitô giáo. Đây là điều chẳng ai mong muốn. Nhưng nếu nhìn một cách tích cực, ta có thể nói rằng cứ mỗi lần có biến động gì đó liên quan đến tôn giáo của mình, chúng ta lại được mời gọi để đọc lại đức tin của bản thân, xem mình đã sống đúng như những gì mình tin chưa. Lên tiếng (trong tinh thần đối thoại và tôn trọng nhau, chứ không phải chửi bới) để giúp người không hiểu biết chấn chỉnh lại hành vi không đúng của mình là điều cần thiết, nhưng ở một phương diện nào đó, chính nó cũng giúp ta soi lại mình. Chúng ta không thích người khác xúc phạm đến Thiên Chúa, còn mình, mình đã có thái độ đúng dành cho Thiên Chúa của mình chưa? Người ta đem biểu tượng Thánh Giá của mình ra bỡn cợt, còn mình, mình có hiểu và sống ý nghĩa của Thánh Giá Chúa trong cuộc đời mình chưa? …

Những vấn đề mà chúng ta đang gặp phải giúp người Kitô hữu nhận ra rằng mình cần sống đức tin của mình một cách sâu sắc hơn, chứ không chỉ ở bề mặt. Đi lễ, đọc kinh, lần chuỗi… là cần thiết nhưng nó phải giúp mình đi vào tương quan gắn kết với Chúa, đưa mình đến gần Chúa, từ đó mình được biến đổi để mỗi ngày nên giống Chúa hơn. Việc giữ đạo phải giúp chúng ta có con tim mềm mại hơn, biết yêu nhiều hơn, đối đãi tốt với người khác hơn. Nếu không, nó chỉ là những điều vô ích. Vì tôn giáo là một nhu cầu thiết yếu và không thể xoá bỏ, nên dù nó có bị đàn áp thế nào, nó vẫn sẽ tiếp tục tồn tại như lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy. Những tôn giáo không chân chính ắt sẽ sớm bị diệt vong, vì nó không tìm thấy đất sống cho mình. Còn nếu mỗi người Kitô hữu có thể hiểu và sống được giáo lý tốt đẹp mà Đức Giêsu đã truyền lại thì tính chân chính là của tôn giáo mình sẽ được củng cố và thừa nhận nhiều hơn. Người khác nhìn vào sẽ được thu hút và muốn noi theo.
Thiết tưởng rằng đây là một hành vi truyền giáo hữu hiệu và tuyệt vời nhất, và cũng là điều mà Đức Giêsu đã truyền dạy chúng ta phải làm trước khi Ngài về trời.

Thân ái,

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
Nguồn: dongten.net


THƯ GỬI CON, CON YÊU! 


Ba sẽ là cánh chim, đưa con đi thật xa Mẹ sẽ là cành hoa, cho con cài lên ngực Ba mẹ là lá chắn, che chở suốt đời con 
Con yêu, thấm thoát con đã được 3 tháng tuổi rồi đấy. Vậy mà ba cứ ngỡ ngày con sinh ra chỉ mới hôm qua hôm kia thôi. 

Mọi chuyện thật nhiệm mầu. Ba và mẹ con cưới nhau được vài tháng thì mẹ báo cho ba biết là đã có thai. Lúc ấy ba đang bưng tô cơm để ăn, thế mà nghe tin báo ba chỉ muốn quăng tô cơm đi để chạy đến ôm lấy con và mẹ. 

Đêm ấy, ba và mẹ dâng ngay những lời Tạ ơn lên Chúa, dâng những tràng chuỗi Môi Khôi tạ ơn Mẹ. Lòng ba mẹ ngỡ ngàng, tràn ngập bao niềm vui. Nhưng rồi niềm vui kéo theo những lo lắng... 

Ba bắt đầu lo nghĩ về những điều sắp tới, mẹ bắt đầu mệt mỏi vì những thay đổi trong thai kỳ. Bao lo lắng, bao suy tư tràn về. Nhưng ba nghĩ, con là món quà Nhiệm Mầu mà Chúa đã thương ban cho ba. Bao nhiêu hồng ân Chúa đã ban cho gia đình bé nhỏ của mình. Ba đâu phải là người đạo gốc đâu, ba chỉ được rửa tội vào tuổi 26. Nhưng may sao, Chúa thương ba, bao nhiêu kỳ diệu, Chúa đã bên ba, cho ba được gặp mẹ con, và có con. Ba thầm nghĩ, ba có là ai đâu, có tài cán gì đâu, lại còn đầy tội lỗi, hàng ngày sống trong bao nhiêu cám dỗ, bao nhiêu là sa ngã, vấp phạm. Nhưng ... Chúa chưa ngày nào bỏ rơi ba. 

Khi làm cha rồi, ba học được cách chăm lo nhiều hơn cho gia đình, ba nhận ra rằng, cuộc sống của ba bây giờ không chỉ là 1 nữa mà là sống cho cả nhà, cả gia đình. Mỗi suy tính trong cuộc sống, mọi đam mê hay sở thích cá nhân, ba tự nguyện gác lại. Vì ba muốn dành cho con và mẹ những điều tốt nhất ba có thể làm. 

Ba bắt đầu học cách chăm sóc mẹ trong thai kỳ, chia sẻ với mẹ việc nhà, quan tâm theo dõi sức khoẻ của con trong bụng mẹ. Ba lên mạng tìm hiểu rồi hỏi han đủ điều, cứ như lúc ấy ba có thể trở thành một nhà tư vấn sức khoẻ bà mẹ và trẻ em vậy đó. 

Nhưng rồi một ngày kia, bác sĩ bảo con quấn dây rốn, lòng ba quặn lại, lo lắng. Ba lo sợ con sẽ có chuyện gì. Tâm trạng ba rối bời. Lúc ấy, thật ba chẳng còn biết phải làm sao. Ba nhìn lên ảnh Chúa, đó là tấm ảnh Lòng Thương Xót Chúa mà ba treo trong phòng. “Chúa ơi, xin Chúa cứ trách phạt con vì những điều tội lỗi, những bất hoàn của con lên con, Nhưng xin Chúa đoái thương đến con của con, là món quà mà Hồng ân Chúa đã ban cho gia đình con. Khó khăn vất vả nào, con cũng gánh nhưng xin Chúa đừng bỏ rơi gia đình con trong tuyệt vọng, đau khổ.” Ba cứ nhẩm đi nhẩm lại, đến những lúc đi làm ba vẫn lẩm nhẩm, vẫn nghĩ. Và Chúa đã thương nhận lời, con lại bình an. 


Tưởng đâu mọi thử thách đã hết, đến những ngày gần sanh, bác sĩ lại bảo con chưa xoay đầu, nếu chưa xoay là phải mổ. Ba lại lo lắng, lần này ba lại lo thêm cho mẹ. Ba không tiếc gì, ba chỉ mong sao con và mẹ bình an, mạnh khoẻ. Và ba lại nài xin Chúa, Đức Mẹ... 

Cứ như vậy, bao nhiêu trắc trở, cả nhà ta cùng nắm tay để vượt qua, có những lúc mệt mỏi vô cùng, có những lúc căng thẳng, nhưng ba cảm nhận được rằng, Thiên Chúa, Đấng giàu lòng Thương xót, luôn đoái thương đến gia đình mình. 

Ngày sinh con ra, trong phòng sinh cùng mẹ con, ba chứng kiến được những khó khăn, đau đớn, ba trải qua những giây phút căng thẳng, sợ hãi. Ba đã cùng mẹ con vượt cạn. Lúc tiếng khóc con vang lên, ba khóc. Ba đã khóc. Ba khóc vì mẹ con đã bình an, ba khóc vì con đã chào đời mạnh khoẻ. Ba làm dấu Tạ ơn Chúa ngay giữa phòng sinh. Ba cảm thấy Chúa đang ôm lấy ba, Người cùng khóc với ba, ba cảm thấy Đức Mẹ đang xoa đầu ba, Mẹ mỉm cười chúc phúc. 


Cuộc sống gia đình bỗng đẹp rực rỡ như bông hoa hồng đang nở. Nhưng làm sao yên ả mãi được, những mệt mỏi, căng thẳng cũng làm cho ba mẹ cãi nhau. Mẹ con mệt và mất sức, căng thẳng. Ba thì nặng nề bởi công việc, bởi áp lực chăm lo gia đình. Ba mẹ cãi nhau. Nhưng khi nhìn đến con, ba khóc, ba xấu hổ vì mình vẫn còn khiếm khuyết, ba xấu hổ vì ba không làm tròn bổn phận, ba xấu hổ vì ba còn để cái tôi của mình quá lớn. Và con, lại hàn gắn ba mẹ. Con làm cho ba mẹ nhận ra mình cần phải hoàn thiện thêm mỗi ngày để mang lại hạnh phúc cho con và gia đình. 

Bàn tay Chúa khéo sắp đặt mọi chuyện con à. Những lúc khó khăn, vất vả trong gia đình. Những giây phút “chén dĩa xô nhau”, Chúa lại để con lên tiếng để ba mẹ biết nhận ra những điều chưa đúng. Ngày rửa tội cho con, ba quyết chọn Tên Thánh Gioan Phaolo II làm Thánh bổn mạng cho con. Ngài là Đức Giáo hoàng của Lòng Thương Xót, ba ước mơ, Lòng Thương Xót của Chúa sẽ phủ đầy trên con, trên những bước đường con sẽ đi, những nơi con sẽ đến. Và ba cũng muốn nhắn nhủ rằng, chính nhờ Lòng Thương xót của Chúa mà gia đình ta nên trọn vẹn từng ngày. Ba ước ao, con của ba cũng trở nên chứng nhân mạnh mẽ của Lòng Thương xót. 

Có nhiều người từng nghĩ, sống đời sống gia đình có gì đâu ghê gớm, hay đời sống gia đình không quan trọng trọng bằng đời thánh hiến. Nhưng ba đồng ý sống đời gia đình rất dễ. Tuy nhiên, để đi trọn hết con đường ơn gọi gia đình đầy đủ, mấy ai dám đi hết qua những chông gai thử thách. Ba sợ, sợ rồi ba cũng sẽ gục ngã nhưng... “Chúa không bao giờ từ bỏ”.

Phanxicô Nguyễn Lâm Trấn An 
Nguồn: Bản tin online tháng 6/2018 của Ủy ban Giới trẻ và Thiếu nhi - Hội đồng Giám mục VN


“Chúa ơi hồn con, xin phó thác trong tay Chúa luôn, những khi vui mừng, hoặc những lúc con đau buồn. Mỗi khi đời con gặp những nỗi lo âu khó khăn, và mỗi khi tim con ngập tràn hạnh phúc xin dâng Người.” (Phó thác - Kiều Linh).

Vâng, đây là bài hát nói về sự phó thác nơi Thiên Chúa cả những lúc vui cũng như khi buồn, khi chán nản mỏi mệt hay thất vọng, khi gặp cơn gian nan và thử thách. Phó thác không có nghĩa là bỏ mặc không cố gắng, không quan tâm, để Chúa lo tất cả. Nhưng là sự cố gắng nỗ lực của bản thân để cộng tác với ơn Chúa ban.

Khi nói đến sự phó thác, hầu hết các thánh đều là mẫu gương phó thác cuộc đời trong tay Chúa, để Ngài sử dụng như một khí cụ. Và mẫu gương thân quen nhất nói về sự phó thác đó chính là Đức Mẹ Maria “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Sứ thần nói” (Lc 1,37). Lời này được thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ nhưng đó chính là ý muốn của Thiên Chúa. Và Mẹ đã mau mắn đón nhận dù rằng lời nói đó Mẹ chưa hiểu được hết. Mẹ vẫn âm thầm cầu nguyện và phó thác dâng mọi sự trong tay Chúa.

Một mẫu gương về nói về sự cầu nguyện phó thác cũng rất gần gũi - đó là thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu- vị thánh của tình yêu. Ngài đã dâng lên cho Chúa tất cả những hi sinh thường ngày. Nhìn vào những công việc tưởng chừng như nhỏ bé nhưng Ngài đã đặt vào đó một tình yêu lớn lao và vĩ đại. Như trong nhật kí của chị đã viết:
“Phần con, con vẫn một lòng quả cảm muốn làm đại thánh. Con không cậy công con, có đâu mà cậy; con hoàn toàn cậy trông ở Chúa là sức mạnh, là chính sự thánh thiện. Những cố gắng nhỏ nhặt của con cũng làm Chúa vui lòng. Người sẽ nâng đỡ con lên tới Người, Người sẽ lấy công nghiệp cực trọng Người mà bù đắp cho con. Người sẽ làm cho con nên thánh.” (Truyện Một Tâm Hồn).

Một khi đã phó thác mọi sự cho Thiên Chúa, Ngài không chối bỏ ai bao giờ. Tôi đã cảm nhận rõ điều đó khi tôi chuẩn bị kì thi trung học phổ thông quốc gia vừa rồi. Lúc đó tôi rất lo lắng vì mình là thí sinh tự do không đi ôn ở trường, năm nay quy chế thi lại đổi mới nữa. Tôi thầm nói với bản thân: “không biết mình có thi đậu hay không nữa?”. Đây là niềm hi vọng của gia đình cũng như người thân của tôi, có lẽ tôi sẽ làm họ buồn và thất vọng khi không vượt qua kì thi này.

Song, nỗi lo lắng không dừng ở đó, tôi không mua được hồ sơ vì trên vùng Sài Gòn không bán và nhận hồ sơ nữa. Một cảm giác hụt hẫng làm cho tôi hoang mang khi nhìn lại bao nhiêu cố gắng, công sức và cả niềm hi vọng của mình bấy lâu đã tiêu tan.

Khi đó, tôi chỉ biết chạy lên nhà nguyện quỳ dưới chân thập giá Chúa òa khóc như một đứa con nít. Tôi vừa cầu nguyện vừa thầm trách móc: “tại sao Chúa lại bỏ con” nhưng Chúa vẫn im lặng một cách đáng sợ.

Sau khi tôi lấy lại bình tĩnh để cầu nguyện với Chúa: “Lạy Chúa con phó thác mọi sự trong tay Chúa, xin hãy làm cho con như ý Ngài”, cũng trong lúc đó tôi vô tình mở sách 1001 câu châm ngôn các thánh có câu: “Bao lâu con còn cầu nguyện, thì cứ yên lòng: Chúa vẫn còn thương con” (Thánh Augustinô), Tôi như tìm được sự an ủi và niềm hi vọng. Đúng là ý Chúa, tôi gọi điện thoại về nhà bạn tôi ở quê, bạn ấy nói với tôi vẫn còn một ngày để làm hồ sơ dự thi. Tôi nhảy lên và vui sướng tạ ơn Chúa vì Ngài vẫn thương tôi, vẫn ở bên tôi. Rồi kì thi trôi qua tôi đã đạt được những mong ước của mình. Tôi nhận ra rằng không có điều gì ngoài ý muốn của Thiên Chúa, chỉ cần chạy đến cầu nguyện phó thác trong tay Chúa, Ngài sẽ không bao giờ bỏ rơi ta.

Có những lúc tôi không tránh được sự nản lòng khi cầu nguyện với Chúa vì cảm thấy Ngài im lặng, thờ ơ trước nỗi phiền muộn mà tôi đang mang. Chính những lúc như vậy tôi cần phải chờ đợi, cầu nguyện, phó thác và tin tưởng vào Chúa nhiều hơn: “không có Thầy các con không thể làm được việc gì” (Ga 15,5). Vì tự bản thân tôi không làm được điều gì cả nếu không có ơn Chúa và sức mạnh của Ngài.

Qua kinh nghiệm của tôi trong việc cầu nguyện phó thác mọi sự trong tay Chúa, tôi mong ước các bạn cũng hãy đặt hết niềm tin vào Chúa, cầu nguyện với Chúa luôn mãi dù lúc buồn vui, khó khăn, gian nan hay thử thách, để Chúa dẫn bước chúng ta trên đường đời. Cũng có lúc ý của ta Chúa không thực hiện, nhưng hãy tin rằng Chúa đang muốn thực hiện cho mình những điều tốt hơn điều ta đang cầu xin. Hãy cứ cầu nguyện vì: “Ðối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể” (Mt 19,26)

“Lạy Chúa Giêsu,
Xin dẫn dắt con từ cõi chết đến cõi sống,
Từ lầm lạc đến chân lí.
Xin dẫn đưa con từ tuyệt vọng đến hi vọng,
Từ sợ hãi đến sự thật,
Xin dẫn đưa con từ ghen ghét đến yêu thương,
Từ chiến tranh đến hòa bình.
Xin đổ đầy bình an nơi tâm hồn chúng con,
Thế giới và vũ trụ chúng con,
Bình an, bình an, bình an.”

( Thánh Têrêsa Calcutta)

Anna’KS

HÌNH MẪU ĐỨC MẸ Ở "PHƯƠNG TÂY" TỪ ĐẦU THẾ KỶ 2O...


Hôm trước, khi tôi giới thiệu bức tranh "Đức Mẹ Granduca" sáng tác năm 1504, của Raphael (1483-1520), có bạn đã có ý kiến rằng, hình ảnh Đức Mẹ trong tranh không giống như trong "nguyên mẫu"....!

Sự thực, không có hình ảnh Đức Mẹ hay Thiên Chúa nào là "nguyên mẫu" cả.

"Nguyên mẫu" mà số đông nhầm lẫn-được nhìn thấy ở khắp các nhà thờ theo phong cách châu Âu, từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay-thực chất, là chịu ảnh hưởng từ hình ảnh Đức Mẹ trong tranh của William Bouguereau (1825-1905)-họa sĩ vẽ theo phong cách Cổ điển được xếp vào hàng bậc nhất ở Pháp thế kỷ 19-đặc biệt là bức "Innocence" vẽ năm 1893 vô cùng nổi tiếng này.



Chúng ta cần biết, tất cả, hình ảnh Đức Mẹ hay Thiên Chúa trong nghệ thuật đều là sản phẩm của trí tưởng tượng-kết quả "biểu tượng hóa" của tư duy thị giác, hay "hiện thực hóa" và "lãng mạn hóa" theo cái nhìn tự nhiên, và cuối cùng là "siêu hình hóa" theo cái nhìn văn hóa...-biến đổi theo thời gian...

"Đức Mẹ Granduca" sáng tác năm 1504, của Raphael (1483-1520)

Hình ảnh Đức Mẹ trong "Đức Mẹ Granduca" của Raphael, với vẻ đẹp nhẹ nhàng sâu lắng của mình, đã chinh phục tình cảm công chúng phương Tây từ đầu thế kỷ 16, và được nhìn nhận một cách tự nhiên là hình mẫu của Đức Mẹ...!

Đến đầu thế kỷ 20, hình ảnh Đức Mẹ trong "Innocence" đã được yêu thích nhiều hơn bởi vẻ đẹp mềm mại, nhẹ nhàng, và trong trẻo của mình... và cũng một cách tự nhiên trở thành hình mẫu của Đức Mẹ ở phương Tây cho đến ngày nay...!


(Lược trích từ "Nghệ thuật Công giáo", tập 2)


CHẶNG ĐÀNG THÁNH THỂ




Các tu sĩ Dòng Phanxicô nổi tiếng về việc giới thiệu về Chặng Đàng Thánh Giá (the Stations of the Cross) ở các Giáo Hội địa phương trên khắp thế giới. Đó là lòng sùng kính dựa trên các sự kiện liên quan cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu. Trong những năm gần đây, các hình thức sùng kính khác cũng đã được giới thiệu, trong đó có “Chặng Đàng Thánh Thể” (the Stations of the Holy Eucharist).

Lòng sùng kính này tương tự Chặng Đàng Thánh Giá, gồm 12 chặng dựa vào các đoạn Kinh Thánh trong Cựu Ước và Tân Ước, được tập trung vào Thánh Thể.

Thánh Clara Nghèo Khó Dòng Chầu Thánh Thể (Perpetual Adoration) ở Hanceville, Alabama, (trước đây Mẹ Angelica sáng lập mạng lưới truyền hình toàn cầu EWTN – Eternal Word Television Network), là người thúc đẩy lòng sùng kính này và đã phát triển các lời suy niệm cho mỗi chặng đàng. Trên website có giải thích mục đích của lòng sùng kính này (*).

Mục đích của Chặng Đàng Thánh Thể là giúp các tín nhân hiểu biếtyêu mến nguồn gốc và đỉnh cao của đức tin: THÁNH THỂ – The Most Holy Eucharist. Xuyên suốt lịch sử cứu độ, Chúa Cha đã chuẩn bị cho dân Ngài tặng phẩm là Con Yêu Dấu của Ngài, và cũng chuẩn bị cho sự hiện diện thật của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Trong Cựu Ước, Thánh Thể đã được diễn tả trước. Trong Tân Ước, các tiên báo đó trở thành hiện thực.

Đây là lòng sùng kính tốt lành có nền tảng Kinh Thánh và tập trung vào một trong các tặng phẩm được Thiên Chúa trao ban cho nhân loại.

Dưới đây là một trong các phiên bản về Chặng Đàng Thánh Thể, làm nổi bật nhiều điều tiên báo và ứng nghiệm về Thánh Thể trong Kinh Thánh.

1 – Men-ki-xê-đê là Vua Sa-lem: Tiên báo về chức linh mục.
2 – Lễ Quá Hải của người Do Thái: Chiên Vượt Qua – Diễn tả trước về Thánh Thể.
3 – Man-na: Diễn tả trước về Thánh Thể – Man-na Mới.
4 – Đền Thờ cũ: Diễn tả trước về Thánh Thể – Thiên Chúa ở giữa loài người.
5 – Êlia và bánh nướng: Diễn tả trước về Thánh Thể – Thần Lương trên đường lữ hành (của ăn đàng).
6 – Belem là Nhà Bánh: Nơi sinh của Bánh Hằng Sống.
7 – Tiệc cưới tại Cana: Nước hóa rượu, rượu thành máu.
8 – Hóa bánh ra nhiều: Thánh Thể là Thần Lương cho nhiều người.
9 – Diễn từ Bánh Hằng Sống: Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống.
10 – Bữa Tiệc Ly: Lời hứa nên trọn (ứng nghiệm).
11 – Đường về Em-mau: Chúa Giêsu được nhận ra khi Ngài bẻ bánh.
12 – Tiệc Cưới Con Chiên: Thánh Thể là lời hứa về sự sống đời đời.

PHILIP KOSLOSKI
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ Aleteia.org)
Lễ Sangti – 2018

NHÓC CON CỦA MẸ Ạ! 



(Mã số: 18-153) 

Ngày xưa, cũng không đến nỗi “xưa” lắm đâu, vào thời của các cụ ấy, gia đình là một khối vững chắc và bền chặt. Khi ấy cuộc sống rất đơn sơ, chưa có các phương tiện biết nổ máy chạy lung tung ngoài đường như bây giờ. Khi ấy, chưa nhà nào có cái tủ lạnh để nhồi nhét đồ ăn vào đó, rồi lại lấy thức ăn từ trong đó để nhồi nhét vào dạ dày. Làm kiếp dạ dày thật khổ! 

Chứ sao! Nó hứng chịu mọi phong ba bão táp trong cuộc đời một con người. Khi vui, người ta thích ăn cho căng cái bụng, khiến dạ dày phải làm việc cật lực. Khi buồn, họ chán chẳng thèm ăn gì, làm cho dạ dày chẳng có gì để nhâm nhi, đói! Cứ thế, dạ dày chịu ảnh hưởng trực tiếp của mọi cảm xúc “hỉ-nộ-ái-ố” với đủ thứ áp lực. Có cả câu: “Con đường đi vào trái tim người đàn ông phải thông qua cái dạ dày” nữa cơ mà! Đúng vậy không, đàn ông? Tôi thì đương nhiên là không biết, vì tôi đâu phải là đàn ông. 

Tôi là một phụ nữ, chính xác thì phải nói rằng, tôi là một người mẹ đơn thân. 

Với các cụ ngày xưa, mẹ đơn thân thường là đối tượng thật tội nghiệp. Họ trở thành mẹ đơn thân vì một lý do dở hơi nào đó, để rồi phải cô đơn vùng vẫy giữa cuộc đời. 

Với “các cụ” ngày nay, mẹ đơn thân là một hiện tượng bùng nổ, tưng bừng như cuộc chiến pháo hoa đêm giao thừa. Các nàng trở thành mẹ đơn thân vì cả đống những lý do không tưởng. Và dù các nàng ấy có giàu sang hay nghèo khổ, thành đạt hay lầm lũi, xã hội cũng luôn dành cho họ sự cảm thông sâu sắc. 

Mà thôi… “Nói dài nói dai, thành ra nói dại”! Tôi vòng vèo như thế chỉ để chuẩn bị kể cho các bạn nghe về câu chuyện của tôi. Tôi cũng là mẹ đơn thân mà. Nhưng tôi không định kể về cái lý do ngớ ngẩn khiến tôi trở thành mẹ đơn thân. Mà tôi kể về cuộc sống của hai mẹ con tôi. Tôi sẽ nói về việc tôi đã nỗ lực đến thế nào để cậu bé thiên thần của tôi không bao giờ cảm thấy trống trải cõi lòng nhưng luôn dành cho mẹ rất nhiều yêu thương. 

Bố của con tôi tất nhiên không sống cùng tôi. Tôi không yêu nổi ông và không muốn chung sống với ông. Nhưng tôi biết con tôi cần sự chăm sóc của ông. Đó là lý do tôi đã liều mạng thuê nhà gần nhà ông, cách nhau hai dãy phố. Phúc bảy mươi đời cho tôi vì ông có người vợ hiền lành. Không là tôi đã bị xé xác từ lâu chứ chẳng còn lành lặn để hôm nay ngồi lóc cóc gõ nên câu chuyện này. 

Ông là một người đàn ông gần 60 tuổi, “cao- gầy-đen” chứ không phải “cao-to-đen-hôi” như ngôn ngữ xã hội vẫn châm biếm, mặc dù vùng không gian quanh ông cũng luôn khét mùi thuốc lá. Vóc dáng mảnh khảnh cùng gương mặt nhăn nhúm của ông khiến tôi hay liên tưởng đến một gã phù thủy lả lướt trên cây chổi biết bay. Tuy cũng có một lần nhìn ông mà tôi không nghĩ đến phù thủy. 

Đó là một ngày cuối năm, năm đó là năm nào thì tôi không thể nhớ. Ông đưa con chúng tôi đi chơi. Khi chở con về, tay ông cầm một cây mía rất dài theo phong tục đem lộc về nhà. Lá mía la đà cong dài thả xuống hai vai ông. Tôi chợt nghĩ: “Thiếu mỗi cái Vòng Kim Cô là thành Tôn Ngộ Không!” 

Đó, đâu phải lúc nào tôi cũng ngỡ ông là phù thủy đâu! 

Tuy nhiên, ông là một người bố rất tận tụy. Ông chăm con rất khéo và đối phó được mọi chiêu trò của con nhằm trốn ăn trốn ngủ. Tôi luôn yên tâm mỗi khi con ở bên nhà ông. Ông cũng luôn dành hết thời gian rảnh rỗi để đón con về nhà chăm sóc, khi tôi dở chứng ốm nặng. 

Sau những ngày xa mẹ như thế, thằng nhóc con của tôi thường chạy ùa vào nhà, ôm chầm lấy mẹ mà gào lên: “Mẹ ơi mẹ, con yêu mẹ! Con thương mẹ! Con nhớ mẹ nhiều lắm…”. Rồi nó nhảy phóc lên, chân tay quặp chặt người mẹ. Nếu nó tròn như Đô- rê-mon, cảnh đó sẽ như gấu con ôm thân cây… nào đó. Tôi cũng không biết bọn gấu con thích ôm những cây gì để viết vào đây nữa. Còn tôi thì sẽ hôn con chùn chụt khắp cái bản mặt vô cùng đáng yêu của nó. Tôi sẽ gửi kèm bản mặt ấy cho các bạn dễ hình dung. 

Sau màn chào hỏi thắm thiết ấy, thằng nhóc con của tôi sẽ hô hoán triệu tập lũ trẻ hàng xóm đầy nhà. Chúng rải đồ chơi từ nhà trên xuống nhà dưới, cũng may nhà tôi không có tầng lầu chứ không là chẳng biết chúng sẽ nảy nở thêm bao nhiêu ý tưởng. 

Rải đồ chơi xong thì bọn trẻ sẽ làm gì? Chơi đồ chơi phải không? Không, không đâu! Chúng nó bỏ đấy, kéo nhau ra sân nô đùa tung tăng. 

Nghe tiếng bọn nó hò hét, tôi lật đật chạy ra, xem có kẻ gian nào đang ẩn nấp rình mò, âm mưu bắt cóc lũ cướp nhỏ ấy không. Và có vẻ tôi đã quá lo xa, bọn trẻ quậy khủng khiếp đến nỗi có lẽ cướp biển vùng Caribe cũng phải chạy tuột dép. Còn tôi, trên quãng đường vài chục mét từ dưới bếp lên trên nhà để ra sân, được liên tục trải nghiệm những cảm giác cực mạnh cùng những món đồ chơi mà tôi đã tặng con mình với tất cả yêu thương. 

Mỗi bước đi của tôi là một cái “oạch” trượt ngã vì những cái ô tô nhỏ như bàn chân. Mỗi lần chống tay đứng dậy là tôi vớ được một nắm nhầy nhụa, là gì thì chỉ có Chúa và lũ trẻ mới biết. Rồi sau vài lần trượt ngã đứng dậy, quần áo của tôi trở nên đầy mầu sắc, chủ yếu là những màu mà đến cả các họa sĩ cũng không thể gọi tên. Bao nhiêu hộp màu dành cho việc tập tô vẽ, được đổ hết ra nền nhà. Tôi bàng hoàng nhìn toàn cảnh ngôi nhà thân yêu, trông như vừa có cả một đại quân Mông Cổ tấn công vậy. 

Thoát khỏi bãi chiến trường tàn khốc ấy, tôi hai tay chống nạnh, há miệng định gầm lên như một con sư tử chuẩn bị xâu xé con mồi. Nhưng tiếng gầm chưa kịp văng ra đã bị phanh lại đột ngột vì thứ mà tôi vừa nhìn thấy. Vì phanh gấp tiếng gầm để chuyển sang tiếng “oái”, nên âm thanh tôi bất đắc dĩ bật ra khỏi cửa miệng là tiếng “ẳng” của một con chó. Cái váy đẹp nhất của tôi đã “được” cắt te tua! Và thằng nhóc nhà tôi đang đội lên đầu làm tù trưởng thổ dân da đỏ. 

Tôi từng xem nhiều phim về thổ dân, nhưng chưa từng thấy tên tù trưởng nào lại ít giống tù trưởng như thằng nhóc-con tôi lúc ấy. Nó cởi trần, vẽ khắp người các loại màu xanh đỏ tím vàng nâu đen, trừ chỗ mặc cái quần đùi. Chân nó không đi dép mà buộc lá chuối trông như hai gói xôi. Một tay cầm gậy giơ lên, tay kia cầm cái vung nồi to nhất trong nhà, nó dài mỏ tru lên thứ âm thanh nghe như tiếng chó con khát sữa. Hơn chục đứa trẻ hàng xóm mình đầy màu sắc thi nhau nhảy múa xung quanh nó như dân Ca-mơ-run cầu mưa. 

Tôi rơi vào trạng thái không biết nên bò ra cười hay hét lên quát tháo. Đứng hình vài giây, tôi quyết định lùa hết chúng nó về nhà tắm rửa kẻo nhân viên của trại Tâm thần đến hốt chúng đi. 

Đằng nào chúng cũng đang bẩn như hủi. Tôi bắt chúng dọn dẹp đồ chơi, lau sạch nhà cửa rồi mới vào phòng tắm. Chúng hân hoan làm việc cứ như một cuộc chơi. Với ba mươi phút và hơn chục đứa trẻ, ngôi nhà đã ngăn nắp đâu vào đấy. Nền nhà cũng đã được lau sạch bóng. Tôi lùa chúng vào phòng tắm. 

Đứa lớn nhất 6 tuổi, còn lại toàn bọn lít nhít từ 3 đến 5 tuổi, nên tôi cho bọn nó tắm chung. 

Nửa giờ sau, chúng sạch bong thơm phức, lần lượt ra khỏi nhà tắm. Con tôi 5 tuổi, đứa 6 tuổi cũng mặc vừa quần áo của nó. Nhưng bọn nhỏ hơn thì rộng thùng thình. 

Mặc quần áo xong, chúng lại nhảy loi choi khắp nhà như một bầy lợn con xổng chuồng. Tôi cắn răng chịu đựng trong khoảng mười lăm phút thì các bố mẹ lũ trẻ đến tìm chúng về. Tôi thở phào nhẹ nhõm, vậy là chiến tranh đã chấm dứt, trả lại cho tôi những giờ phút bình yên. Ơn Chúa! 

Quay sang ôm con vào lòng, tôi trìu mến nói: “Mình ăn cơm con nhé…” 

“Tí nữa mẹ ạ!”- Thằng nhóc kêu lên.- “Bây giờ mẹ làm ngựa cho con cưỡi, làm máy bay cho con bay một lúc rồi con mới ăn cơm được…” 

“Úi giời!”- Tôi nghe mà muốn xỉu. Vừa cật lực “cạo sạch” người cho hơn chục đứa trẻ, đã đủ tiêu hao hết năng lượng của tôi, giờ lại phải bò ra nhà làm ngựa cho một thằng nhóc 5 tuổi cưỡi đi chơi nữa! Chết con mất, Chúa ơi… 

Bò bằng bốn chân, à quên, tôi bò với hai bàn tay và hai đầu gối với cậu con trai yêu quý trên lưng. Ì ạch được vài vòng quanh nhà thì tôi đưa ra đàm phán: 

“Con ơi, mẹ mỏi lưng lắm rồi, mỏi cả chân và tay nữa… Chắc lưng mẹ sắp gẫy làm đôi rồi ấy, con ạ…” 

Thằng nhóc tỏ ra thương cảm: 

“Thế hả mẹ…? Mới đi được có mấy bước mà lưng mẹ đã sắp gẫy làm đôi rồi á? Khổ thân mẹ thế!” 

Tôi “ngả theo chiều gió” luôn: 

“Khổ lắm con! Mẹ lại còn mệt nhừ cả xương nữa rồi cơ… Chắc không bò được tiếp con à!” 

Nó nhảy xuống cái bịch: 

“Mẹ nằm sấp xuống chiếu đi, con đấm lưng cho!” 

“Ừ đây…” 

Tôi nghe con trai nhỏ nói thế thì mở cờ trong bụng, nuôi mãi mới có ngày được nó phục vụ cho. Thật tuyệt vời. 

Nhưng hỡi ôi! Nó đấm lưng cho mẹ mà như đánh nhau với kẻ tử thù. Ngồi hẳn lên lưng mẹ, hai nắm tay nó đấm lia lịa, miệng không ngừng hô “cha chả cha chả”.Tôi tưởng như xương mình sắp vỡ vụn. 

“Thôi thôi con ơi…”- Tôi hốt hoảng van xin.- “Mẹ hết đau lưng rồi. Con xuống đi!” 

Thế là nó nhảy sang một bên chiếu, hớn hở vì thành tích vừa đạt được: 

“Đấy, mẹ thấy con có giỏi không? Lần sau mẹ mà đau lưng thì cứ bảo con nhá!” 

Tôi vừa nói vừa đi như chạy xuống bếp: 

“Không, không! Lần sau mẹ không đau lưng nữa đâu con…” 

Tôi dọn cơm lên. Nhóc Kin của tôi thích ăn thịt băm viên sốt cà chua, su su xào và lạp sườn chiên. Tôi nấu đúng sở thích của nó. Nhìn mâm cơm, thằng nhóc reo lên: 

“A… cơm hôm nay đẹp quá! Màu vàng này, màu đỏ này, màu xanh nữa này… Nhiều màu nhỉ, mẹ nhỉ!” 

“Ừ… Mẹ làm toàn món con thích đấy, con ăn ngon miệng nhé!” 

“Vâng, con sẽ ăn thật nhiều. Ăn cả năm bát cơm luôn!” 

“Rồi, ăn đi con!”. Tôi biết nó cao hứng nói thế chứ cái bụng nó cùng lắm là đựng được một bát cơm. 

Nó nhanh nhảu làm dấu, tung hoành ngang dọc lia lịa cả chục lần. Đến lần thứ mười một, tôi cáu: 

“Đủ rồi đó con! Chúa chóng mặt rồi đấy!” 

Nó toe toét và không “Nhân danh Cha” nữa, nhưng cái miệng vẫn léo nhéo đủ chuyện như máy khâu. 

Tôi xới cơm cho nó và giục nó ăn, kẻo nó cứ huyên thuyên thì có mà đến sáng mai. 

Tôi đã nhiều lần bảo nó, khi ăn chỉ nói chuyện từ tốn. Nhóc con của tôi á, còn lâu mới lớn đến mức đấy, nên nó vừa ăn vừa ồn ào kể chuyện: 

“Mẹ ơi nhá, đêm qua con mơ thấy mẹ chở con đi chơi cơ…” 

“Thế hả con? Hai mẹ con mình đi đâu?” 

“Đi đến một cái vườn trẻ to đùng, rất nhiều đồ chơi, nhiều trò chơi, nhiều cả các bạn nữa… Còn có cả Chúa Giêsu cơ nhá…” 

“Thế à!”- Tôi tỏ ra hứng thú.- “Con kể mẹ nghe xem nào…” 

Thằng nhóc vừa sì sụp húp canh vừa hớn hở: 

“Con mơ thấy mẹ chở con đi vườn trẻ rất to… Con đang chơi thì Chúa Giêsu đứng cạnh con, Chúa Giêsu cười với con và còn chơi đu quay với con nữa…” 

“Thế cơ à!”- Tôi cười.- “Rồi Chúa Giêsu có nói gì với con không?” 

“Có! Chúa Giêsu nói là Chúa luôn ở trong trái tim của con đấy… Chúa còn bảo con đừng sợ ma, đừng sợ trời tối, vì Chúa lúc nào cũng ở bên con…” 

“Vậy từ nay con đừng sợ nữa nhé…”- Tôi vừa ăn, vừa liếc nhìn con. Chắc tại chiều nào cũng chở nó đi lễ nên nó mơ thấy cả Chúa Giêsu đây… 

Rồi nó cứ thế tuôn đổ cõi mơ của nó với mẹ đến hết bữa cơm. Khi mẹ nó bê mâm cơm xuống bếp dọn dẹp rửa bát, nó cũng lẽo đẽo theo sau luôn miệng nói tiếp. Mẹ nó đã quen nghe những câu chuyện trời ơi đất hỡi này quá rồi, cứ “ha hả” cười và “ừ hử” cho xong thôi. 

Tối. Trước giờ ngủ, nhóc Kin của tôi thường “dâng lễ” thế này: Nó sẽ trịnh trọng đưa tay lên làm dấu: Nhân danh Cha và Con và Tránh Trần (Thánh Thần - Nó vẫn ngọng, cũng may Chúa Thánh Thần là bậc thầy ngôn ngữ, Ngài thừa sức tự dịch ra tên của Ngài trong giọng nói của một đứa trẻ). Tôi thưa: Amen. Rồi nó hô: Chúa ở cùng anh chị em. Tôi thưa: Và ở cùng cha. Nó nói tiếp: Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau. Lúc này thì tôi phải bắt tay nó và hai mẹ con chúc nhau bình an. Sau đó mới nằm xuống ngủ. 

Nhưng tối nay, nó không dâng lễ mà gối đầu lên tay mẹ gạ gẫm: 

“Mẹ ơi, mình tâm sự đi!” 

Tôi nhéo nhẹ cái má hồng hồng của nó: 

“Ừ, con có tâm sự gì thì nói đi…” 

Không biết bọn nhóc 5 tuổi ngoài kia có những tâm sự gì, nhưng thằng nhóc nhà tôi hôm đó thì mang nặng nỗi niềm thế này. Gương mặt nó trở nên rất nghiêm trọng, đôi mắt biểu hiện một nỗi buồn nghiêm túc. Nó nỉ non: 

“Sáng nay ở lớp ấy, con đang chơi cái quay quay thì con thấy mẹ vào lớp đưa túi nhãn cho cô giáo. Con vui ơi là vui, cứ tưởng mẹ sẽ cho con về luôn với mẹ… Con chạy đi cất cái quay quay… Nhưng khi cất xong thì mẹ đã đi về mà không cho con về với… Con buồn lắm… Nên khi cô giáo cho con ăn quả nhãn, con mới không ăn…” 

Nói xong, nhóc đưa cánh tay gạt nước mắt. Tôi chạnh lòng ôm con vào lòng, cảm thấy vô cùng áy náy vì đã khiến nó tổn thương. 

“Vậy là con tưởng mẹ sẽ đưa con về luôn à?”- Tôi nhỏ nhẹ hỏi nó. 

“Vâng…”- Nó gật gật, vẫn đưa tay gạt nước mắt.- “Nhưng khi con cất cái quay quay đi thì không thấy mẹ đâu nữa…” 

“Ôi… Mẹ xin lỗi con…” 

Tôi nói giọng xúc động, chợt hiểu là nó đã rất hụt hẫng. Lẽ ra tôi nên vào lớp chào hỏi con một chút, ôm hôn con một cái và giải thích là con phải ở lớp chứ không về với mẹ được. Như thế nó sẽ không tổn thương. Cách nghĩ và cảm xúc của trẻ thường không bao giờ giống người lớn. Để hiểu chúng, người ta phải thật sự biết lắng nghe. Không chỉ nghe thứ ngôn ngữ thốt ra từ cửa miệng, mà còn phải nghe được những âm thanh phát ra bởi cõi lòng. Cảm nhận và trân trọng chúng. 

Sau một hồi vỗ về, thằng nhóc cũng chìm vào giấc ngủ trên cánh tay mẹ. Vuốt mái tóc của một thiên thần tí hon đang say giấc, lòng tôi dâng lên những yêu thương đầy ắp tâm hồn. 

Có lần, nhóc Kin của tôi bị nhiễm bệnh Chân-Tay-Miệng theo “phong trào chung” của trẻ em toàn quốc. Năm đó dịch bệnh bùng nổ. Các bệnh viện nhi chật ních những em bé lốm đốm xanh đỏ trên người, khiến người ta dễ liên tưởng đến bộ phim “Những chú chó đốm”. 

Bây giờ tôi kể lại thì giọng có vẻ anh hùng vậy thôi, chứ lúc đó tôi lo cho con đến xót cả ruột. Vì nhà bố nó đối diện bệnh viện trẻ em của thành phố, lại có nhiều bác sĩ là hàng xóm xung quanh, tôi đành nuốt nhớ thương để con ở cùng bố suốt thời gian bị bệnh. 

Nhưng trẻ con đâu có biết nuốt nhớ thương. Nó nhớ mẹ đến nỗi nằng nặc đòi về với mẹ. Bố nó đàm phán được là chỉ về rủ mẹ đi dạo quanh công viên thôi, rồi lại ở với bố cho đến khi khỏi bệnh. Nó đành chấp nhận, vì nếu không đồng ý thì bố nó sẽ không chở đi gặp mẹ. 

Hẹn ở cổng nhà thờ An Tân. Trước đây gọi là nhà thờ Rinh, theo phiên âm tiếng Pháp. Sau ngày Hải Phòng giải phóng thì người ta đổi sang tên Việt Nam là nhà thờ An Tân, nghĩa là sự đổi mới trong bình an. 

Hôm đó tôi lại mắc việc một chút nên đến muộn khoảng 15 phút. Vừa dựng xe trong sân nhà thờ xong quay ra đã thấy nhóc Kin đứng cạnh bố, thiết tha nhìn mẹ. Đôi mắt nó khi ấy chan chứa trăm ngàn nỗi nhớ, triệu triệu yêu thương. Bộ dạng của nó hướng trọn về mẹ cứ như phải xa mẹ cả thế kỷ rồi vậy. 

Tôi vội vàng chạy đến bế con. Con thì lũn cũn chạy đến với mẹ, nhảy vào lòng mẹ. Hai mẹ con ôm nhau thổn thức. 

Mười ngày sau nhóc Kin khỏi bệnh, được về với mẹ hắn thích lắm. Hắn tung tăng nhảy múa khắp nhà, miệng liên tục hát hò bất cứ câu hát nào mà hắn nhớ. Lộn xộn và xáo trộn, nghe như một kiểu nhạc tổng hợp vậy. 

Một buổi tối kia, tôi hẹn nhóc con đi chơi. Ăn cơm xong thì thấy trời chuyển màu xám, chắc sắp mưa. Tôi bảo nó: 

“Trời đang có sấm chớp kìa con, thế là không đi chơi được đâu. Để hôm khác nhé?” 

Nó gào: 

“Không, không mưa đâu mẹ ạ!” 

Rồi nó khệ nệ ôm cái ghế ra giữa đường, cũng may đường ngõ lúc đó ít người qua lại. Nó đứng lên ghế, tay chống nạnh, tay chỉ thẳng lên trời, quát: 

“Cái thằng sấm chớp kia… Im ngay! Không được mưa! Để Kin đi chơi chứ!” 

Mấy bà hàng xóm trợn mắt nhìn thằng nhóc: 

“Thằng này to nhỉ!” 

Quát sấm chớp xong, nó le te chạy vào nói với mẹ: 

“Mẹ ơi mẹ, trời không mưa nữa đâu! Thay quần áo đẹp đi chơi đi mẹ…” 

Tôi không biết phải nói sao, nên đành đủng đỉnh đi thay quần áo. Mặc cho nhóc con bộ đồ nó thích nhất, hai mẹ con tôi đi về phía cơn mưa, vì nơi đó có cái vườn trẻ mà nó thích nhất. 

Vừa đi tôi vừa thấp thỏm lo lắng. Sợ mưa trút xuống thì ốm cả mẹ lẫn con. Nhưng không, Chúa Trời nhiều khi cũng chiều lòng con nít. Cơn mưa đen sì dần tan biến theo những làn gió. Bầu trời lại cao lồng lộng, lấp lánh những vì sao. Thằng nhóc hớn hở nhìn lên trời: 

“Đấy, mẹ thấy chưa, con đã bảo là không mưa đâu mà!” 

Tôi cười: 

“Ừ nhỉ… Đúng là không mưa thật!” 

Thằng nhóc hào hứng: 

“Tại vì con bảo thằng sấm chớp là đừng mưa, để con đi chơi với mẹ. Thế là sấm chớp nó không mưa nữa, chắc nó cũng đi chơi với mẹ nó đấy, mẹ ạ.” 

* * * 

Một ngày kia, người ta nói nhỏ với tôi rằng, có một người thanh niên hơn tôi 3 tuổi, còn độc thân, kinh tế rất khá, sống rất đàng hoàng tử tế. Họ bảo tôi nên suy nghĩ đến việc lập gia đình, có chồng bên cạnh vẫn hơn là sống đơn lẻ. 

Tôi cũng suy nghĩ khoảng vài tháng về điều đó. 

Đúng là nhiều khi tôi thấy rất cô đơn. 

Đúng là nhiều khi tôi ước ao có một bờ vai cho mình nương tựa. 

Đúng là nhiều khi tôi thèm khát được ôm vào lòng… 

Tiếng gọi của bản năng trong tôi thật ra chưa bao giờ im lặng. Tôi vẫn luôn sống với những ước mơ phải chôn chặt. Nhưng, tôi luôn băn khoăn rằng, liệu người đàn ông mà tôi sẽ lấy làm chồng đó, có thể yêu thương con tôi được không? Tôi là mẹ nó, cưu mang nó trong người suốt chín tháng mười ngày gian khổ, chịu bao đớn đau sinh ra nó, bao vất vả chăm sóc nó. Vậy mà nhiều khi tôi còn thấy nản. Nhiều khi tôi còn muốn nổi điên lên. Huống chi một người đàn ông không có chút liên hệ gì về huyết thống đối với nó. Điều gì sẽ giúp họ chấp nhận con tôi? Điều gì sẽ khiến họ kiên nhẫn được với con tôi? Điều gì sẽ giúp họ yêu thương nó? Tôi có thể tin được ai, khi mà ngày ngày vẫn đầy ắp những tin tức về tội ác? 

Đó là chưa kể, đây là Việt Nam. Tuy thời nay tư tưởng người ta đã thoáng hơn nhiều, nhưng liệu gia đình và họ hàng của người đàn ông đó có sẵn sàng chấp nhận hai mẹ con tôi? Biết bao cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối cũng còn tan tành, huống chi… 

Tôi cân nhắc thật kỹ và thấy rằng mình không thể phạm sai lầm thêm một lần nữa. Quyết định của tôi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến con tôi. Và cái giá phải trả cho một lần ngây dại nữa, có thể là thảm họa khôn lường... 

Không! Tôi quyết không cho phép mình làm theo tiếng nói của bản năng. Có nhiều cách để sống hạnh phúc mà không nhất thiết phải có một gia đình với chồng với vợ. Tôi thấy mình đang rất hạnh phúc bên nhóc con của tôi. Mục đích chính của đời tôi là đem lại tiếng cười cho Thiên thần nhỏ ấy. 

Mặt khác, tôi cũng được nâng đỡ nhiều trong đời sống đức tin. Tôi dành nhiều thời gian cho việc cầu nguyện. Và càng ngày, tôi càng được Chúa dắt đưa vào sự hiện diện vô biên của Ngài. Tôi gặp được nơi Chúa một tình yêu nồng thắm diệu kỳ. Ngài khiến trái tim tôi đầy ắp và bản năng tôi được bình thản. Có Chúa, tôi không còn thấy mình cần một người chồng nữa. 

Đến ngày phải trả lời bà mai mối, bà đến nhà tôi và tấm tắc khen con tôi xinh trai quá. Tôi trả lời bà rằng tôi từ chối gặp mặt và muốn sống độc thân thế này. Bà ngạc nhiên lắm. Luôn miệng bảo tôi đã bỏ qua một cơ hội tốt. Tôi cười và nói mẹ con tôi đang sống rất tốt, không muốn bị chen ngang bởi một người đàn ông nào cả. Bà ấy đứng dậy đi về luôn. 

Nhóc con của tôi ngước lên hỏi mẹ: 

“Sao bà có vẻ bực tức thế hả mẹ?” 

Tôi cười vẻ bí hiểm: 

“Vì mẹ không đi chơi với bà…” 

Thằng nhóc ngạc nhiên: 

“Bà đến rủ mẹ đi chơi á? Đi chơi với bà ấy có phải là mẹ đi lấy chồng không?” 

Tôi tròn mắt: 

“Sao con nói thế?” 

Nó don dỏn: 

“Con cũng nghe thấy bà ấy nói với mẹ mà. Mẹ đi lấy chồng có phải là mẹ sẽ mặc váy cô dâu không? Rồi có tiệc, có ca nhạc nữa đúng không?” 

“Ừ, đúng rồi con!” 

Nó chợt cáu: 

“Ui giời ơi… Sao mẹ không đi lấy chồng đi để con được thấy mẹ làm cô dâu? Con thích đi đám cưới mẹ lắm. Mẹ phải lấy chồng đi chứ!” 

Tôi phì cười: 

“Haha… Mẹ mà lấy chồng thì làm sao đi vườn trẻ chơi với con được?” 

Nó thộn ra: 

“Thế á!” 

“Đúng rồi con!”- Tôi khẳng định. Nó nghĩ ngợi gì đó khoảng hai giây, rồi ôm cổ mẹ: 

“Thế là mẹ thích chơi với con hơn chứ gì… Mẹ yêu con nhiều lắm đúng không?” 

“Đúng rồi đấy, mẹ yêu con nhiều lắm, nhóc con của mẹ ạ!”



(EWTN News/CNA) Một vị linh mục nói rằng sự quyến rũ tính dục không xác định danh xưng tính dục vì sau những công bố được cho là của ĐGH Phanxicô, người ta đã nhanh chóng thắc mắc về học thuyết Công Giáo và bản chất tự nhiên của khuynh hướng tình dục.

Cha Thomas Petri, dòng Đa Minh, Khoa Trưởng Viện Thần Học Đức Mẹ Vô Nhiễm tại Washington,D.C. đã nói với hãng tin CNA rằng “Dĩ nhiên Thiên Chúa yêu thương mọi người, vì Người chính là tình yêu: Thiên Chúa là tình yêu.”

“Nhưng Người không yêu tội lỗi, thực ra Người không thể yêu tội lỗi vì tội lỗi không chỉ chống lại Thiên Chúa mà còn chống lại sự tốt lành và hạnh phúc thật mà Người kêu gọi mỗi người chúng ta.” 

“Trong lúc Thiên Chúa yêu mỗi người, Người không yêu những thứ mà nó tách biệt chúng ta ra khỏi Người và làm hại đến phẩm giá của chúng ta là con của Người.”

Vào hôm thứ Sáu, Juan Carlos Cruz, một nạn nhân bị xâm phạm tính dục bởi cha Fernando Karadima,đã nói với tờ báo Tây Ban Nha rằng ĐGH bảo anh là không thành vấn đề nếu anh là người đồng tính.

Anh kể rằng ĐGH đã bảo với anh “Thiên Chúa tạo nên con như thế này và Người yêu con như thế này và cha không quan tâm.”

Lời công bố này đã khuấy lên một cuộc tranh cãi học thuyết Công Giáo về đồng tính, và một số hãng truyền thông đã vội tường trình việc này như là “ một sự thay đổi lớn” trong giáo huấn của Giáo Hội.

Tòa Thánh Công Giáo thường không bình luận về những cuộc đối thoại riêng tư của ĐGH, và đã không xác nhận hay làm rõ những những nhận xét mà Cruz cho là của ĐGH Phanxicô.

Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo dạy rằng những khuynh hướng đồng tính “đã có từ lâu” là “rối loạn khách quan,” nhưng những người có khuynh hướng đồng tính “phải được đón nhận với sự tôn trọng, cảm thông và tế nhị. Mọi biểu hiện về sự phân biệt đối xử bất công trong lãnh vực của họ cần nên tránh. Những người này được kêu gọi để thực thi đầy đủ ý muốn của Thiên Chúa trong cuộc đời của họ và nếu họ là Kitô hữu, hãy kết hợp với hy sinh Thánh giá của Chúa những khó khăn mà họ gặp phải trong hoàn cảnh của họ.”

Cha Petri nói với CNA rằng “vì chưng tất cả chúng ta đều có những khuynh hướng và mong muốn bất thường, lệch lạc ngoài khuôn phép trong đời sống, chúng ta phải luôn tỉnh thức chống lại cám dỗ và ăn năn trở lại khi chúng ta sa ngã.”

Hơn thế nữa, thật là “ nguy hiểm” để khẳng định rằng Thiên Chúa đã làm bất cứ sự gì là tội lỗi hay gây ra đau khổ, bao gồm cả những ước muốn xáo trộn, nghiệp ngập, hay những chứng bệnh như ung thư.

Cha Peri lưu ý rằng những điều không tốt đẹp không thể đến từ một Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn tốt lành, dù rằng nó vẫn còn là việc bí ẩn tại sao Thiên Chúa lại cho phép tội lỗi và sự xáo trộn hiện hữu nơi thế gian này.

“Sự liên hệ trong thánh ý toàn năng của Thiên Chúa và sự tốt lành vô bờ bến của Ngài đối với xáo trộn, tội lỗi, bạo lực và sự dữ chúng ta trải qua trên cõi đời này là một vấn nạn mà sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo gọi là “vấn nạn cấp bách và không thể tránh khỏi cũng như đau khổ và nhiệm mầu.” 

“Điều mà chúng ta biết là không có sự gì trốn khỏi sự quan phòng của Thiên Chúa, ngay cả những xáo trộn, bệnh tật, tội lỗi và cái ác. Trong một phần rất đau thương nghịch lý về sự quan phòng và sự khủng hoảng của cái ác, Giáo lý chỉ ra một sự thật là Thiên Chúa tạo ra thế giới này và nhân loại này trong một trạng thái hành trình. Không có gì hoàn thiện và do vậy xáo trộn tồn tại.”

Tuy nhiên, chúng ta có thể tin tưởng rằng Thiên Chúa làm việc để mang lại điều thiện từ những hậu quả của xáo trộn và sự ác, “ngay cả những người phải đấu tranh với những ước muốn lệch lạc có thể, nhờ Ơn Chúa, đến để đáp lại lời mời gọi để trở thành con của Ngài và để sống với phẩm giá mà Ngài đã kêu gọi họ, ngay cả khi họ có thể phải chịu đau khổ bị cám dỗ.”

“Thực ra, có thể là phải đối mặt với sự cám dỗ mà sự trông cậy vào Chúa của một người trở nên mạnh mẽ hơn.”

Qua kinh nghiệm phục vụ của mình với những người có sự quyến rũ tính dục đồng giới, cha Petri nói rằng một số người đã phải trải qua thời gian khó khăn hơn những người khác trong việc tin vào tình yêu của Chúa.

Cha thấy hữu ích để so sánh những ý muốn tính dục lệch lạc với những ý muốn xáo trộn khác mà người ta trải qua, như là về thức ăn, thức uống hay những thứ khác.

Cha Petri nói rằng sự lầm lẫn đôi khi nảy sinh từ “ý hướng chữa trị (đồng tính) như là một đặc tính nhận diện của một người, như thể bằng cách nào đó xác định một thực tế cuối cùng cho một người.”

“Không phải vậy, đặc tính nhận diện của mỗi người chúng ta là chúng ta được Thiên Chúa yêu thương và là con cái của Thiên Chúa. Mọi thứ khác xoay quanh điều đó.

“Những quyến rũ, tính dục hay những thứ khác, rất phức tạp. Chúng đến rồi đi, có thể thay thế và biến đổi, và thường có thể thay đổi. Nhân phẩm của chúng ta cùng với ân sủng Chúa ban, chúng ta được kêu gọi để làm chủ những ước muốn của chúng ta chứ không phải làm đầy tớ cho chúng.”

ĐÓA HỒNG KHÔNG GAI 



(Mã số: 18-152)



- Hồng nào hồng chẳng có gai!- Mẹ bảo với Liên thế. 

Ngày bé, Liên hay đùa nghịch, hay tò mò và hứng thú với mọi thứ xung quanh một cách không chừng mực. Mẹ thường bảo Liên hiếu động, thông minh. Ngày ấy, một buổi chiều tĩnh lặng của Mùa Chay, Liên theo mẹ lên nhà thờ, nơi mà ít khi cô bé được đến bởi mẹ cô lấy chồng không theo đạo dù bà là người có đạo. Vườn thánh nhà thờ là nơi linh thiêng, nhưng đối với Liên đấy là một thiên đường đầy hoa, thứ mà cô yêu thích nhất. Theo mẹ đến nhà thờ chỉ vì mê hoa chứ với cô lúc đấy không có khái niệm nào về Công giáo cả. 

Chiều hôm ấy, Mùa Chay Thánh man mác buồn hòa quyện cùng làn gió nhẹ nhàng. Mẹ ngồi nơi góc dưới nhà thờ, âm thầm, lặng lẽ nhìn thứ gì đó mà Liên ko rõ, chỉ biết đó là một cây gỗ với một người đàn ông bị treo trên đấy vô cùng thảm thương. Để mình mẹ ngồi đấy, Liên lon ton chạy ra vườn nhà thờ với hy vọng được chơi hoa. Đang mải mê nhìn những bông hoa hồng, bất chợt có giọng nói nhẹ nhàng, ấm áp vang lên từ phía sau: 

- Con đến đây làm gì thế? Đi nhà thờ buổi chiều à cô bé? 

Giật mình, Liên quay đầu lại. Một cái gai của bông hồng cô đang ngắm đâm vào tay làm cô đau buốt. Người phụ nữ mặc áo đen, đội mảnh vải trên đầu nhẹ nhàng nâng cô dậy, gỡ nhẹ cái gai và bảo: 

- Con có sao không? 

Liên im lặng nhìn người phụ nữ hiền từ, nhân hậu. 

Chuông nhà thờ rung. Lần đầu tiên trong đời Liên được nghe thứ âm thanh vang vọng ấy. Theo người phụ nữ hiền từ ấy, Liên trở lại nhà thờ nơi mẹ cô đang ngồi ở đấy. 

- Mẹ ơi… Con bị gai hoa hồng đâm vào tay rồi ạ! 

- Sao không con gái? Có Đấng đã từng phải đau hơn thế con ạ. 

Liên nhìn mẹ. Đôi mắt mẹ man mác buồn. Nhẹ nhàng Liên ngồi xuống bên mẹ và lặng thinh, cô không để ý rằng người phụ nữ hiền hậu đưa mình vào đã rời đi từ lúc nào. 

Ngoại từng kể: Mẹ cô là người con gái duy nhất trong nhà, cũng là người mà ngoại yêu thương nhất. Trong xóm đạo ấy, mẹ là người con gái xinh đẹp, nết na, có học vấn. Người mẹ của cô từng năng nổ tham gia giới trẻ, các hội đoàn… Liên không biết đó là gì nhưng cô rất khâm phục mẹ. Ngoại kể: Thế mà có một ngày… 

Mẹ Liên lên thành phố theo học đại học. Một cô gái tuổi đôi mươi xinh đẹp, giỏi giang như mẹ cô sẽ được nhiều người để ý - ngoại bảo thế. Mẹ cô, người từng có ý định theo dòng tu. người luôn nhiệt thành hướng tâm hồn mình cho Đấng Tối Cao lại yêu và quyết định cưới một người đàn ông không theo Đạo. Ngày đấy ngoại bảo ngoại đã khóc rất nhiều. Mẹ là người quyết đoán, tự chủ. Mẹ tự quyết định cuộc sống của mình và hứa với ngoại sẽ đưa ba của cô theo Đạo. 

- Con à… Người con trai ấy có chịu theo Đạo không con? 

- Anh ấy không muốn mẹ à! 

- Thế con định như thế nào? 

- Con vẫn sẽ cưới anh ấy. 

- Thế con định bỏ Chúa để theo nó sao? 

- Con sẽ đưa anh ấy về. 

Ngoại kể rằng ngày ấy mẹ theo ba về nhà nội, ngoại không nhìn, lẳng lặng quay đầu vào trong nhà, rơi nước mắt. Ngoại sợ một mai mẹ sẽ theo chồng mà bỏ Chúa. Ngoại bảo mẹ như bông hồng, nhìn cứng rắn nhưng mong manh, dễ tàn… 

Có một ngày… 

- Mẹ ơi, con muốn sang ngoại chơi. 

- Ừ… Con đi đi. Nhớ về sớm nha! 

- Mẹ không đi với con sao? 

- Mẹ có việc bận rồi con yêu. 

- Mẹ nhớ đón con nhé! 

- Ừ… Đi đi. Tí mẹ qua. 

Liên lon ton chạy sang nhà ngoại chơi với bông hồng trên tay. Ngày ấy, Liên là một cô bé 8 tuổi, một cái tuổi hồn nhiên, vô tư và nhí nhảnh. Buổi chiều hôm ấy, Liên thấy mình sợ hãi… 

- Đã 10 năm rồi đấy anh à… 

- Thì sao? 

- Lời hứa ngày đấy của anh… 

- Hứa gì? 

- Anh đừng như thế! 

- Cô bảo tôi phải theo cô thờ cái ông Giêsu ấy ư? Nực cười! 

- Anh định không cùng em trở lại thật sao? 

- Việc gì tôi phải bỏ thời gian để nghe một ông già giảng đạo, để lên ngôi nhà thờ cũ ấy ngồi cả tiếng đồng hồ để nghe? Cô nói đi… 

- Được… Anh không theo em sẽ cho con theo. Anh đừng cấm. 

- Cô dám sao! 

Một tiếng loảng xoảng làm Liên giật mình, chiếc bình vỡ cùng với vết máu dài trên cánh tay của mẹ. Liên dù không biết bố mẹ đang nói chuyện gì nhưng cô hốt hoảng chạy vào. 

- Ba làm gì với mẹ con thế? 

- À… Cả mày nữa. cũng định theo mẹ mày chứ gì… Được… Đi đi. Ra khỏi đây! 

- Mẹ ơi… Chuyện gì thế? Mẹ nói con đi… Ba sao thế ạ? 

Mẹ lau vội giọi nước mắt và dẫn Liên ra khỏi nhà. Mẹ ra bờ sông đầu làng, cách nhà Liên mấy trăm mét. Mẹ ngồi đấy, khóc một mình. Lần đầu tiên trong đời Liên thấy mẹ khóc như vậy. 

- Ba chỉ say thôi con à. Không sao đâu… Tí ba hết giận ấy mà! 

- Sao ba lại ném cái bình vào mẹ? 

- Tại ba giận quá thôi. Không sao đâu! 

- Ba cãi nhau gì với mẹ thế ạ? 

- Có gì đâu… 

- Mẹ đừng dối con. 

- Không có gì đâu… An tâm đi con. 

Mẹ dẫn Liên đi, lên nhà thờ cũ trước đây Liên từng nghịch hoa hồng. Vẫn góc cuối nhà thờ ấy, mẹ ngồi khóc và thì thầm điều gì đấy. Liên không ra vườn nhà thờ nữa. Ngồi với mẹ, Liên nhìn lên nơi cây gỗ có người đàn ông ấy. Tự dưng trong người dâng lên một nỗi niềm thương cảm… 

- Bé con, lại đi nhà thờ buổi chiều à? 

- Dạ… 

- Con đi với ai thế? 

- Dạ… Cháu đi với mẹ ạ! 

- Mẹ con đâu? 

Thoáng nhìn Liên không thấy mẹ đâu. Nhưng kìa, ở trên kia có bóng ai đó giống mẹ. 

- Mẹ cháu ở trên đấy ạ! 

- Ừ… Lên với mẹ đi. Lên đấy ngắm nhìn Chúa Giêsu nhé. 

Người phụ nữ hiền từ, nhân hậu ấy trao cho Liên một cái vòng hạt gỗ. Liên men theo dãy ghế trong nhà thờ tiến lên chỗ mẹ. 

- Ông ấy là ai ạ? 

- Là Người mẹ yêu mến nhất đó con. 

- Sao ông ấy nhìn ghê thế ạ? 

- Người đã chịu như thế vì chúng ta đấy con à. 

Liên lặng nhìn người đàn ông bị treo trên đấy, không một mảnh vải che thân, người tan nát, máu đầy người, đầu đầy những cái gai nhọn. 

- Chắc ông ấy đau lắm mẹ nhỉ? 

- Ừ... Ngài đau nhiều hơn vì mẹ đó con à… Về thôi… Ta về với ba. 

Mẹ vào bếp. Bất giác sờ vào túi, Liên thấy cái vòng hạt gỗ người phụ nữ trao cho. 

- Mẹ ơi… Đây là gì thế? 

- Ai cho con đấy? 

- Người phụ nữ hiền từ trong nhà thờ cho con ạ. 

- Con cứ giữ, đừng làm mất nhé! 

- Nó dùng làm gì hả mẹ? 

- Sau này con sẽ biết. 

Liên tục mấy tuần liền, ba vắng nhà. Người ta bảo ba đi theo người con gái khác. Mẹ lặng thinh đưa tôi sang nhà ngoại. 

- Con ở đây ít hôm để mẹ đưa ba về. 

- Mẹ nhớ về sớm. 

Mấy tuần liền mẹ không về. Mẹ vẫn đi, rong ruổi tìm kiếm ba về. 

- Nó không chịu về à con? 

- Anh ấy không về mẹ ạ. 

- Để mẹ khấn xin với Đức Mẹ cho nó trở về. 

- Tội lỗi như con thì làm gì chứ? 

Mẹ lại đi. Một mình đơn độc. Liên chưa bao giờ nghĩ rằng ba mình sẽ như thế. Ba dù gia trưởng, nóng tính nhưng vẫn luôn chăm lo cho gia đình. Ấy vậy mà… 

- Cô gái ấy có thai rồi mẹ à! 

- Thế giờ con định thế nào? 

- Cô ấy nhà có tiền, có quyền lực. 

- Thế chồng con chỉ vì muốn có quyền lực mà bỏ vợ con à. 

- Vì con… 

- Con làm sao? 

Mẹ lại lặng thinh. Liên biết mẹ lại lên nhà thờ. Từ cái ngày ba đi, mẹ lại lên nhà thờ nhiều hơn. 

- Cha vẫn ở đấy chứ? Cha có nghe con không?... Con biết con tội lỗi, con không xứng, nhưng chỉ xin một lần, xin Cha đưa anh ấy trở về. 

Thế rồi, ba cũng về nhưng là cái ngày mẹ bị bệnh. Mẹ ốm nặng, hen suyễn, viêm phổi. Người ta nói mẹ không còn lâu nữa… 

Đêm ấy, cái đêm trời mưa tầm tã, mẹ ho dữ. Ba từ phòng bên chạy sang. 

- Em không sao chứ? 

- Mời cha cho em đi! 

- Người thế này em còn muốn mời ai. Ông ta có chữa được cho em không? Đi bệnh viện với anh. 

- Nguyện vọng của em… Anh mời cha ra cho em đi! 

Liên không hiểu gì cứ lặng lẽ ngồi bên mẹ. Cha xứ đến, mẹ nói với Ngài rằng mẹ muốn trở lại, muốn được xưng tội rước lễ. Ba cứ để vậy cho cha xứ lo. 

- Anh theo Đạo đi… Cho bé Liên học giáo lý nữa. Được không anh? 

- Em nói gì thế? 

- Em không còn sức nữa rồi… 

- Mẹ sao thế? Mẹ ơi… 

Đêm ấy, mẹ ra đi mãi mãi. 

Liên về với ngoại vì ba còn dì và đứa em nữa. Lẳng lặng theo thói quen, Liên theo bà lên nhà thờ ngồi nơi góc mẹ vẫn hay ngồi. Ba vẫn chưa cho Liên học giáo lý. 

- Cô ơi… Con yêu hoa hồng lắm. 

- Mẹ con là đóa hồng đấy. 

- Mẹ bảo hoa hồng nào cũng có gai. 

- Mẹ con là đóa hồng không gai đấy. 

- Tại sao ạ? 

“Liên! Đi về!”- Tiếng ba ồm ồm làm liên giật mình và thấy sợ. Sau khi mẹ mất, ba vẫn ở với người phụ nữ ấy và thỉnh thoảng lại về thăm LIên. Tiếng chuông nhà thờ vẫn mỗi buổi chiều ngân vang. Liên thường hay trốn ba lên nhà thờ. Chiếc vòng hạt gỗ vẫn nằm trên tay Liên dù không biết nó để làm gì. 

Ngày ấy, ba về lâu hơn thường ngày. Vào phòng mẹ, ba ngồi trên giường một mình. Một lúc sau ba tìm thứ gì đấy trong tủ. Ba ngồi lặng thinh. Trao giấy cho ngoại ba nói ba muốn học đạo. Ngoại lặng người. Ba trao cho ngoại hộp gỗ nhỏ. 

- Cô ấy đã nói với cha xứ trước rồi. 

- Nói gì? 

- Cha xứ hay đến gặp con bảo rằng cô ấy nói rằng con sẽ vào Đạo. 

- Con bé tin chắc như thế ư? Với con? 

- Con không biết cô ấy nghĩ như nào… Nhưng con cảm thấy có gì khác quá. 

Ngoại mở hộp gỗ, bên trong là những đóa hồng không có gai được ép khô cùng với một bức thư dành cho ba. 

“Anh đọc bức thư này chắc em cũng không còn ở bên nữa rồi. Những bông hồng này em dành cho anh. Em đã gỡ hết gai của nó và tự phạt mình với hy vọng Chúa sẽ đưa anh về. Em hy vọng được cùng chịu đau khổ với Người vì em đã bỏ người. Giêsu, Đấng mà em tôn thờ và yêu mến sẽ giang rộng vòng tay mà đón lấy anh. Người sẽ cho anh những đóa hồng không gai để anh không bị thương. Trở về anh nhé!” 

Giọt nước mắt ngoại lăn dài trên gò má nhăn nhúm của kẻ đầu bạc tiễn người đầu xanh. Con gái ngoại, người đã từng hứa rằng sẽ đưa người chồng của cô theo đạo cuối cùng cũng đã toại nguyện. 

Ba theo Đạo, Liên cũng được theo học giáo lý. Liên thường nghe về những câu chuyện của những bông hoa hồng. Nhưng với cô mẹ là người mang đóa hồng không gai xinh đẹp nhất. 

Giải Viết Văn Đường Trường

[Giải Viết Văn Đường Trường][fbig1]

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget