Đồng hương Quy Nhơn

BÀI MỚI


Chúa Giêsu đã sống lại, và Người hiện ra với hai môn đệ làng Emmaus, khi họ đang trên đường trở về quê nhà. Người trò chuyện với họ. Nhưng họ đã không nhận ra Người.

Bởi quá bất ngờ, và bởi Người có một dung mạo khác.

Chỉ đến khi vào bữa ăn tối, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng rồi chia cho các ông, các ông mới nhận ra Người...

Câu chuyện trong Kinh Thánh này có ý nghĩa vô cùng thiết thân. Nó củng cố đức tin: "Thiên Chúa luôn đồng hành, luôn ở cùng chúng ta...", và nhắc nhở về ý nghĩa của Bí tích Thánh Thể…

Bởi ý nghĩa này, "Hành trình Emmaus" đã trở thành chủ đề quan trọng trong nghệ thuật Công Giáo. Đã có nhiều họa sĩ vẽ về chủ đề này, trong đó, nổi tiếng nhất là ba tác phẩm cùng tên “Bữa ăn tối ở Emmaus” của ba “thiên tài” hội họa: Titian (1488-1576), Caravaggio (1571-1610) và Rembrandt (1606-1669). Ba tác phẩm của ba họa sĩ là ba lối tiếp cận khác nhau về chủ đề và là ba phong cách nghệ thuật khác nhau. Đó là những khác biệt vừa mang tính cá nhân vừa mang tính thời đại.


Titian vẽ “Bữa ăn tối ở Emmaus” trong khoảng thời gian từ 1530 đến 1535, khi ông đã là một họa sĩ lừng danh. Trong sử sách nghệ thuật, người ta xem Titian là một trong những nghệ sĩ tài năng hiếm có, một tên tuổi bậc nhất trong hàng những họa sĩ lớn của thời đại Phục Hưng. Với kỹ thuật sơn dầu điêu luyện, cái thế giới hiện thực hiện hình trong tranh ông, ở từng chi tiết nhỏ, đã mang hơi thở phập phồng của sự sống. Một vẻ đẹp sống động trong một tinh thần dung dị nhưng tinh tế, quí phái… đó là những gì người ta có thể nói về phong cách hội họa Titian.

“Bữa ăn tối ở Emmaus” của Titian đã được chuyển tải với phong cách hội hoạ như vậy. Trước mắt ta là hình ảnh câu chuyện ở thời khắc hai môn đệ nhận ra Thầy của mình. Tất cả đều hết sức tự nhiên với khung cảnh và dáng dấp đời thường. Chúa Giêsu ngồi chính giữa đang làm phép và bẻ bánh, vừa điềm đạm nghiêm trang vừa thật gần gũi, thân thiện… Hình ảnh một chú chó đang đùa nghịch với một chú mèo nhỏ dưới gầm bàn càng làm cho không khí trong tranh có tính cách hiện thực sắc nét hơn nữa… Trong cách nhìn hiện đại hơn, nhiều nhà phê bình đã cho rằng, hình ảnh trong “Bữa ăn tối ở Emmaus” của Titian không đơn giản chỉ là nỗ lực “khách quan hóa” câu chuyện trong Kinh Thánh. Nó còn là một ẩn dụ: những vật thể trên bàn, bánh và rượu, là những thành phần của Thánh Thể; còn chiếc bàn trải khăn trắng đơn sơ kia, lại gợi ý hình ảnh bàn thờ nhà thờ…



“Bữa ăn tối ở Emmaus” vẽ năm 1601 của Caravaggio, được xem là có cảm hứng từ tác phẩm nói trên của Titian. Nhưng, cũng như phần lớn tác phẩm của Caravaggio, đây cũng là tác phẩm gây nên nhiều tranh cãi. Dĩ nhiên, chẳng ai có thể nghi ngờ khả năng thể hiện nghệ thuật của “thiên tài” hội họa này. Xét riêng về hình thức, phần lớn các nhà phê bình nghệ thuật đều thừa nhận, đây là tác phẩm rất đặc biệt của Caravaggio. Hầu như trước ông chưa có họa sĩ nào diễn tả ánh sáng và thể chất đồ vật trong tranh sắc sảo và mạnh mẽ đến như vậy... Điều gây tranh cãi, chủ yếu ở khía cạnh tư tưởng, ở cách Caravaggio “lý giải” chủ đề. Đương thời, phía phản đối cho rằng: Một, cái bàn ăn thừa mứa kia tầm thường như ở một quán nhậu chứ không có cái đạm bạc thiêng liêng của một bàn thờ…; Hai, hình ảnh Chúa Giêsu đã không có râu, lại quá trẻ và hơi có phần giống phụ nữ…; Ba, hành vi của các nhân vật trong tranh tạo cảm tưởng ba người quá thân mật, thậm chí, hơi có phần suồng sã…

Caravaggio và những người ủng hộ ông lúc đó, cũng như bây giờ, đã có ý kiến ngược lại: Một, Thiên Chúa ở cùng chúng ta là ở bất cứ nơi đâu trên thế gian này, không nhất thiết chỉ ở trên bàn thờ, trong nhà thờ, do đó, không cần phải ám chỉ về đó. Điều này trong Kinh Thánh đã nói rõ…; Hai, tại sao Chúa Giêsu đã xuất hiện trước các môn đệ trong một hình hài khác, khiến họ không nhận ra Người cho đến khi Người bẻ bánh? Chẳng phải là vì Người muốn cho các ông hiểu rằng, từ nay, Người có thể hiện thân trong hình ảnh bất kỳ ai, bất kể giàu, nghèo, sang, hèn và luôn ở bên họ, đồng hành với họ sao? Hình ảnh này có gì sai trái với những gì đã được mô tả trong Kinh Thánh?... Ba, không có lý do gì để từ chối sự thân mật và gần gũi trong sự tiếp cận Thiên Chúa. Thiên Chúa không chỉ đến khi chúng ta cầu nguyện hay suy gẫm về Thiên Chúa. Thiên Chúa ở bên cạnh và đồng hành với chúng ta trong từng khoảnh khắc của đời sống… Chẳng phải trong Kinh Thánh cũng đã nói như vậy sao!


Đến phiên nó, “Bữa ăn tối ở Emmaus” vẽ năm 1648 của Rembrandt, được xem là có cảm hứng từ sự hòa trộn giữa tính cách dung dị, tinh tế của Titian và cách sử dụng ánh sáng điêu luyện nhằm tôn vinh chủ đề của Caravaggio. Thật vậy, “Bữa ăn tối ở Emmaus” của Rembrandt trông thân quen như hình ảnh một buổi cầu kinh trong mọi gia đình Công giáo. Điểm đặc biệt là cách sử dụng ánh sáng với bản màu nâu đã tạo cho hình ảnh này một không khí vừa thân mật vừa thiêng liêng. Chính cái khoảng trống chìm trong tối ở nửa trên bức tranh càng làm cho cái không khí thân mật và thiêng liêng này càng thêm sâu sắc. Tư tưởng của Rembrandt thể hiện trong tranh: sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống chúng ta không phải là điều quá bất ngờ và mang ý nghĩa siêu việt. Người đến tự nhiên với sự yêu thương, nhẹ nhàng…


Còn nhiều điều có thể nói về ba tác phẩm vừa kể ở khía cạnh nghệ thuật. Tuy nhiên, nó không nằm trong mục đích của bài viết này. Qua sự trình bày sơ lược ba tác phẩm cùng chủ đề ở ba thời điểm lịch sử nghệ thuật khác nhau, tôi chỉ muốn lưu ý một điều: qua thời gian, nghệ thuật càng ngày càng không đơn giản là công cụ minh họa Kinh Thánh, một phương tiện để quảng bá Lời Chúa nữa. Nó chứng thực Lời Chúa như bản thân sự hiện hữu của con người trong chân tính và thiện tính của nó. “Hành trình Emmaus” trong nghệ thuật, càng ngày càng gần hơn trong các trải nghiệm tâm linh nơi con người.

Nguyên Hưng

---------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1/ Histoire de la Peinture của Wendy Beckett
2/ The story of Art của E.H. Gombrich
Nguồn: tgpsaigon.net



"THIÊN CHÚA, NGƯỜI CHĂN CHIÊN NHÂN LÀNH"
TRONG NGHỆ THUẬT CÔNG GIÁO 


Hình ảnh Chúa Giêsu với con chiên hiền lành trên vai hay trên tay, hay hình ảnh Chúa Giêsu đứng giữa đàn chiên ngoan ngoãn bình yên nơi đồng cỏ, trong khi, hiện diện khá phổ biến trong các hình thức nghệ thuật công cộng (Public Art)-như tranh ghép kiếng, tranh khảm đá ở các nhà thờ-hay trong các hình thức nghệ thuật đại chúng (Popular Art)-như các loại tiểu họa (icon) ngày xưa và các loại tranh in ngày nay-thì lại, có vẻ như, rất ít được các nghệ sĩ “tên tuổi” quan tâm. Số lượng tác phẩm thực sự đặc sắc về chủ đề này khá hiếm hoi. Rà soát lại toàn bộ lịch sử nghệ thuật Công giáo, kể từ thời Giotto (1267-1377) cho đến nay, về chủ đề này, nổi tiếng, chỉ có vài tác phẩm của Mirullo (1617-1682) và Tissot (1836-1902).

Tại sao có sự hiếm muộn như vậy?

Câu hỏi này đã từng được đặt ra nhưng chưa bao giờ được trả lời thỏa đáng. Ở đây, tôi chỉ ghi chú về mặt hiện tượng. Tôi sẽ trở lại với vấn đề này trong các bài viết khái quát về sự vận động phát triển của nghệ thuật Công giáo dựa trên các phát kiến Mỹ học Thần học (Theological Aesthetics) hiện đại hơn, sau khi đã giới thiệu một cách tương đối đầy đủ các tác phẩm tiêu biểu ở các chủ đề tiêu biểu của nghệ thuật Công giáo…

Trước mắt, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu hai tác phẩm được biết đến nhiều nhất về chủ đề đang được đề cập của hai họa sĩ nổi tiếng nói trên.

Murillo, (tên đầy đủ: Bartolomé Esteban Murillo), được xem là họa sĩ Tây Ban Nha nổi tiếng nhất ở châu Âu đương thời. Ngoài mảng tranh đề tài Công giáo thành công nổi bật với các tác phẩm vẽ Đức Mẹ Maria đầy vẻ thanh thoát, dịu hiền, những bức tranh vẽ các em bé nghèo khó trên đường phố thể hiện tình cảm vừa yêu thương vừa tin cậy của ông cũng đã gây xúc động lớn trong lòng người xem. Người ta đã nói nhiều về ông như một họa sĩ bậc thầy trong việc chuyển tải các cảm xúc trữ tình siêu hình thông qua các hình ảnh cụ thể, chân thực bằng cách thể hiện ánh sáng tinh tế với bảng màu nồng ấm. Và, chính sự nhẹ nhàng, trong sáng trong cách nhìn (đối tượng) và cách thể hiện nghệ thuật đã khiến cho tác phẩm của ông có sức quyến rũ lớn chinh phục tình cảm người xem…

Tác phẩm “Thiên Chúa-người chăn chiên nhân lành” được ông vẽ năm 1660, là tác phẩm nổi tiếng đương thời và được biết đến nhiều nhất cho đến ngày nay. Trong tác phẩm, ông thể hiện Thiên Chúa trong hình ảnh một em bé trong bộ đồ hồng nhạt trong sáng với gương mặt bụ bẩm và đôi mắt tròn xoe vừa ngây thơ vừa đầy vẻ cương nghị. Bên cạnh là chú cừu non màu trắng ngà có dáng dấp điềm tĩnh, hiền lành. Người ta đã nói nhiều về ý nghĩa của hình ảnh trẻ thơ khi thể hiện Thiên Chúa trong tác phẩm này của ông. Với tác phẩm này, dường như, ông đang thể hiện một cách hiểu siêu hình về Thiên Chúa ở tư cách là “Chủ chăn”. Cách hiểu này chuyển hóa hình ảnh Thiên Chúa, và mang chúng ta lại gần hơn với Thiên Chúa, nhớ lại Lời Chúa: “Cứ để trẻ em đến với Thầy đừng ngăn cản chúng vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng” (Mt 19,14). Hình ảnh một ngôi đền cổ đổ nát trên nền bầu trời xanh tươi mát làm bối cảnh trong tranh dường như cũng được vẽ với chủ ý nhất định. Nó gợi cảm tưởng về một sự tái thiết và hy vọng…




Tác phẩm này của Murillo hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Prado ở Madrid, Tây Ban Nha.

Có lẽ cũng nên nói thêm một ít về Murillo: Ông là người sáng lập ra Viện Hàn lâm Nghệ thuật Seville (“Academy of Fine Arts in Seville”-Seville là tên quê hương, nơi ông ra đời) năm 1660, và là chủ tịch đầu tiên. Với Viện Hàn lâm này, ông đã tạo nên một ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của nghệ thuật Công giáo ở Tây Ban Nha cho đến mãi sau này.

Người thứ hai, Tissot (tên đầy đủ: James Tissot) có thể xem là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử nghệ thuật Công giáo hiện đại. Ông là họa sĩ người Pháp, học tại École des Beaux-Arts ở Paris. Suốt mấy chục năm đầu, ông được biết đến như một trong những họa sĩ tiêu biểu của trào lưu Ấn tượng chủ nghĩa (Impressionism)-hướng đến vẻ đẹp của thiên nhiên, của hình ảnh phụ nữ và trang phục thời trang...(2) Tuy nhiên, trong khi đang nổi tiếng với những tác phẩm diễm lệ đời thường đó, như “đi theo một tiếng gọi thiêng liêng”, từ năm 1886, ông hầu như dứt bỏ tất cả, để dành gần như toàn bộ quãng đời còn lại để vẽ tranh Thánh. Trong các năm 1886, 1889, 1896 ông đã nhiều lần qua Trung Đông tìm hiểu, ghi chép thực tế hình ảnh cảnh quan và con người… để thực hiện bộ tranh minh họa Kinh Thánh đồ sộ của mình. Cho đến khi qua đời, ông đã vẽ được gần 700 tác phẩm, trong đó, bộ Tân Ước với 365 tranh vẽ bằng màu nước có tên “Cuộc đời Đức Kitô” đã hoàn chỉnh. Đây là bộ tranh vô cùng nổi tiếng, và tất cả, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Brooklyn, New York, Hoa Kỳ. Ngay từ 1896, 1898 bộ tranh này đã được in thành sách và phát hành rộng rãi ở các nước nói tiếng Anh và tiếng Pháp. (3)



Tác phẩm “Người chăn chiên tốt” giới thiệu ở đây, là được rút ra từ bộ tranh minh họa nổi tiếng này của Tissot.

Nhìn tranh, chúng ta dễ dàng nhận biết họa sĩ đang diễn tả dụ ngôn “Con chiên lạc mất”- một trong chuỗi ba dụ ngôn của Chúa Giêsu nhằm trả lời những người Pharisee và những lãnh đạo tôn giáo khác khi họ kết án Người: “đón chào kẻ có tội và ngồi ăn với họ”-trong Kinh Thánh Tân Ước. Tác phẩm thật sinh động với hình ảnh người chăn chiên hớn hở cõng chú chiên đi lạc và đã được tìm thấy trên vai nơi vách đá cheo leo để lại đằng sau lưng phía xa kia những con chiên ngoan hiền còn lại của mình. Cái chỗ đứng, cái dáng dấp và thần thái chân dung nhân vật được thể hiện đã mang lại cho người xem cảm nhận về tinh thần tận tuỵ, tâm hồn đôn hậu và tình cảm yêu thương chân thành nơi người chăn chiên. Sự sống động của bức tranh có sức mạnh như đã làm sống lại Lời Chúa nơi mỗi người xem: “Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất.” (Matthew 18:12-14)

Điều cần nói ngay, hai tác phẩm nói trên, tuy là hai tác phẩm nổi tiếng nhất với chủ đề “Thiên Chúa, người chăn chiên nhân lành” và có một vị trí nhất định trong thế giới nghệ thuật Công giáo, nhưng sự thực, chỉ có vị trí hết sức khiêm tốn trong lịch sử nghệ thuật nhân loại. Chúng không phản ánh hết tài năng của các tác giả, và xa lạ với tinh thần thời đại (khi chúng ra đời). Điều này có căn nguyên mỹ học và có quan hệ đến một số vấn đề thần học. Sẽ không thực tế nếu đòi hỏi một sự phân tích thấu đáo ngay ở đây. Như đã nói ở đầu bài, tôi sẽ quay lại vấn đề này sau khi đã điểm qua tương đối đầy đủ các tác phẩm tiêu biểu với các chủ đề tiêu biểu của nghệ thuật Công giáo.


(Bài đã in trong sách Nghệ thuật Công giáo-tập 1)




Một trong các lời than phiền mà người Công giáo chúng ta nghe được từ người khác là Thánh Lễ nhàm chán lắm. Có thể thi thoảng chính chúng ta cũng nghĩ như vậy. Người ta than rằng họ không được gì khi tham dự Thánh Lễ. Đôi khi chúng ta quên rằng Thánh Lễ không quá nhiều về chúng ta vì Thánh Lễ là chúc tụng và thờ phượng Thiên Chúa. Đó không là cách chúng ta cảm nhận.

Thật vậy, cảm xúc của chúng ta là nguồn sự thật và thực tế bất kham không đáng tin. Chúng thay đổi từng ngày và ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố ngoại tại và nội tại. Đừng cho rằng ma quỷ luôn tìm cách kéo chúng ta xa rời Thiên Chúa bằng cảm xúc và sự tưởng tượng của chúng ta. Thiên Chúa cũng chẳng như cảm xúc của chúng ta. Nếu chúng ta dành quá nhiều thời gian tập trung vào cách chúng ta cảm nhận, chúng ta sẽ thấy mình tôn thờ cảm xúc của mình chứ chẳng tôn thờ Thiên Chúa.

Tất cả chúng ta sẽ trải nghiệm những lúc mà các vị linh hướng gọi là sự phiền muộn và sự an ủi. Chúng ta sẽ dành nhiều thời gian chú ý tới sự phiền muộn hơn là sự an ủi khi Thiên Chúa muốn tẩy rửa và giải thoát chúng ta khỏi dính líu những thứ trần tục, kể cả việc đặt cảm xúc ở trung tâm cuộc đời của chúng ta. Nếu không được kiểm soát, cảm xúc sẽ dẫn chúng ta vào con đường lầm lạc và thậm chí là nguy hiểm. Đó là sự thật khách quan về đời sống hằng ngày, nhưng nó cũng gắn liền với cách chúng ta hiểu biết về Thánh Lễ. Chúng ta không là trung tâm của Thánh Lễ, chính Đức Kitô mới là trung tâm của Thánh Lễ.

1. CHUẨN BỊ THÁNH LỄ

Một trong những khó khăn mà tất cả chúng ta đều đối mặt trong nhịp sống ngày nay là KHÔNG DÀNH THỜI GIAN ĐỂ CHUẨN BỊ CHO THÁNH LỄ ĐÚNG MỨC. Chúng ta vội vàng đi lễ, nhiều người tới nhà thờ thì Thánh Lễ đã bắt đầu, có khi đã đọc sách thánh xong, rồi chia trí đủ chuyện và cảm xúc mơ hồ. Mục đích của Thánh Lễ là đưa chúng ta vào mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi – đặc biệt là qua sự sống, sự chết, và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Thánh Lễ đưa chúng ta vào mối quan hệ kết hiệp với Thiên Chúa và tha nhân trong Đức Kitô để chúng ta có thể đi vào thế giới và loan báo Tin Mừng. Thánh Lễ còn là dịp chúng ta chia sẻ sự hy sinh của Đức Kitô qua việc dâng của lễ – qua thừa tác viên linh mục – và dâng sự hy sinh của chúng ta lên Thiên Chúa qua bí tích Thánh Thể. Trời và đất gặp nhau trong Thánh Lễ. Theo nghĩa đen, chúng ta đặt một chân lên mặt đất và một chân bước vào cõi vĩnh hằng mỗi khi tham dự Thánh Lễ.

Cần phải nuôi dưỡng thói quen tốt đối với Thánh Lễ để khi có những lúc khô khan (không thể tránh) thì chúng ta có thể kiên trì và không rơi vào tình trạng chán nản hoặc thất vọng. Chúng ta phải học cách giữ thinh lặng trong tâm hồn và ngoài thể lý. Hãy nhớ rằng cả nội tại và ngoại tại đều là vấn đề và liên quan lẫn nhau. Đó là lý do Giáo Hội biết rõ khi nhấn mạnh về vẻ đẹp của các dạng, nhất là trong Thánh Lễ. Đó là lý do bí tích Thánh Thể được Chúa Giêsu thiết lập vừa là hữu hình vừa vô hình. Chúng ta có xác hồn nên chúng ta xử lý với thân xác và các cảm nghiệm thực tế, đó là vừa vật chất vừa tinh thần. Đó cũng là lý do chúng ta đối mặt với nhiều chước cám dỗ tập trung vào thể lý khi điều khiển tinh thần.

2. VÀO CÕI TĨNH LẶNG

Chính sự thinh lặng không có nghĩa là một dạng tự hành hạ mà chúng ta muốn để duy trì sự tĩnh lặng thể lý, tâm trí và linh hồn trong suốt Thánh Lễ. Hơn nữa, đó là cách sắp xếp đời sống tâm linh để chúng ta được bình an. Khi sự tĩnh lặng này bao phủ, chúng ta có thể nghỉ ngơi trong Chúa và tham dự vào những mầu nhiệm. Điều này không dễ đạt được, cần phải cầu nguyện và kỷ luật. Chúng ta sống trong thời đại bận rộn, vội vã, có thể khó hoặc có vẻ không thể tìm được sự tĩnh lặng trong cuộc sống hàng ngày. Để có thể thinh lặng trong Thánh Lễ, chúng ta phải tập luyện giữ thinh lặng mỗi ngày. Hằng ngày, hãy dành vài phút để cầu xin Chúa làm cho chúng ta tĩnh lặng trong tâm hồn, rồi tâm trí sẽ cho phép chúng ta đi vào cõi tĩnh lặng sâu thẳm khi chúng ta tham dự Thánh Lễ.

Trong cuốn “Meditations Before Mass” (Suy Niệm Trước Thánh Lễ), tác giả Romano Guardini giải thích về sự cần thiết của sự tĩnh lặng: “Con người sinh sống, và động vật di chuyển; sự tuân thủ từ bên ngoài không ngưng nghỉ. Vì thế, sự tĩnh lặng vẫn còn, và nó chỉ xuất hiện khi nó được mong muốn. Nếu chúng ta đánh giá cao sự tĩnh lặng, nó sẽ đem niềm vui đến cho chúng ta; nếu không thì chỉ là sự khó chịu… Hơn nữa, sự tĩnh lặng không nên hời hợt, vì khi đó sẽ có tiếng nói hoặc sự lúng túng; tư tưởng, cảm xúc, tâm hồn cũng phải tìm được sự nghỉ ngơi. Rồi sự tĩnh lặng đích thực sẽ thấm sâu vào chúng ta, lan tỏa ra xung quanh”.

Sự tĩnh lặng đem lại bình an và niềm vui, giúp chúng ta giao tiếp với Thiên Chúa ở mức sâu rộng hơn. Sự tĩnh lặng đưa chúng ta vào những nơi bí ẩn trong chúng ta để chúng ta có thể khám phá Ngài. Thánh Lễ là thời gian chúng ta có thể hiểu các bí ẩn mà chúng ta chưa biết và được bổ dưỡng bằng Mình Máu Thánh Chúa. Các bí ẩn này mang ý nghĩa và cách hiểu mới hơn nếu chúng ta có thể duy trì sự tĩnh lặng trong đời sống của chúng ta.


3. THAM DỰ THÁNH LỄ

Để có thể giữ thinh lặng trong Thánh Lễ, chúng ta cần đến nhà thờ sớm. Rất nhiều người đến nhà thờ vội vã, chia trí, kích động, chán nản, hoặc mệt mỏi. Những người có con nhỏ đều biết rằng đó có thể là cuộc đấu tranh thực tế để giục người khác đi lễ đúng giờ. Đến nhà thờ sớm vài phút cho chúng ta cơ hội cầu xin Chúa thanh tẩy lòng trí khỏi mọi điều lo lắng. Điều đó có vẻ như không thể, nhưng chúng ta có thể đạt được khi kiên nhẫn với đứa con đang trườn bò lên mình nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Hãy cố gắng thực hành và kiên nhẫn!

Đời sống tâm linh là nuôi dưỡng những thói quen tốt lành và cần có thời gian. Hãy kiên nhẫn với chính mình, nhưng hãy cố gắng đến nhà thờ 5-10 phút trước giờ lễ. Tác giả Romano Guardini giải thích: “Trước hết, chúng ta phải tới nhà thờ sớm để chuẩn bị tâm hồn. Chúng ta phải loại bỏ ảo tưởng về tình trạng của mình khi bước vào nhà thờ; chúng ta phải can đảm đối mặt với sự bồn chồn, sự lẫn lộn và sự rối loạn của chúng ta. Nói một cách chính xác, chúng ta chưa thực sự hiện hữu là những con người – không phải như con người mà Thiên Chúa nói, mà luôn hy vọng cách đáp lại phù hợp với mình. Chúng ta là những bó cảm xúc, tưởng tượng, ý tưởng, và các kế hoạch khác. Điều cần làm trước tiên là thinh lặng và tập trung. Chúng ta phải thành thật nói rằng tôi đang ở đây, và chỉ có một điều tôi cần làm là tập trung vào điều duy nhất: tham dự Thánh Lễ. Tôi hoàn toàn sẵn sàng”.

Sự chia trí và cuộc chiến tâm linh có thể là phương diện khó tránh khỏi về Thánh Lễ đối với đa số chúng ta, vì chúng ta chưa thực sự là “bậc thầy” về lĩnh vực tâm linh. Khi chúng ta cảm thấy bồn chồn áy náy, chúng ta phải tự cố gắng tập trung mỗi khi tham dự Thánh Lễ. Đối với đa số chúng ta, điều này xảy ra khá thường xuyên, nhưng theo thời gian, tình trạng đó sẽ biến mất khi chúng ta sống có kỷ luật.

Tôi thấy rằng tôi cầu xin Đức Mẹ kéo tôi gần với Mẫu Tâm Vô Nhiễm trước mỗi Thánh Lễ là việc làm hữu ích khi đấu tranh với các tư tưởng lan man, chước cám dỗ, hoặc những điều làm chia trí khác. Thật tốt lành, nhà thờ giáo xứ tôi có tượng Đức Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá, thế nên tôi có thể chú ý tới Đức Mẹ khi tôi cảm thấy khó giữ tĩnh lặng.

Khi chúng ta nhận thấy mình tiến bộ trong sự tĩnh lặng về thể lý và tâm hồn, chúng ta không còn thấy khó tập trung nữa, nhất là tập trung vào chính mình (vì có người cứ quay ngang quay dọc xem có ai nhìn mình không, rồi vuốt tóc, chỉnh áo quần,...). Thánh Lễ sẽ không còn nhàm chán, không còn cảm thấy lâu, không còn cảm thấy thời gian nặng nề trôi qua. Cách sắp xếp nội tâm của chúng ta có nhiều điều cần làm đối với nhận thức của chúng ta về Thánh Lễ. Rất nhiều người than phiền về Thánh Lễ, họ không làm được những việc cần đối với Chúa trước Thánh Lễ. Điều này không nghĩa rằng chúng ta không có những ngày tồi tệ.

Nhiều lần chúng ta không cảm thấy thoải mái, bị căng thẳng nhiều, hoặc mệt mỏi, nhưng khi nuôi dưỡng thói quen giữ tĩnh lặng, chúng ta có thể tập trung vào Thiên Chúa. Không phải lúc nào chúng ta cũng cảm thấy thoải mái khi đi lễ. Thật vậy, có thể có những lúc chúng ta khô khan nguội lạnh hoặc cảm thấy trống rỗng khi cố gắng bám vào Thập Giá để sống tốt hơn. Chắc chắn được nghỉ ngơi trong những lúc khó khăn và những lúc bình an, Chúa Giêsu vẫn nuôi dưỡng chúng ta bằng Lời Ngài và bằng Mình Máu Ngài để lôi kéo chúng ta vào sâu trong tình yêu và lòng thương xót vô biên của Ngài.

CONSTANCE T. HULL
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu – 2018


Đừng Lo, Có Chúa!

“Đừng lo con ạ, mọi sự đã có Chúa lo rồi ”, đó là câu nói cửa miệng của ba mỗi lúc tôi gọi điện về nhà. Nhắc về ba tôi luôn không giấu nổi niềm tự hào với chúng bạn rằng mình có một người ba tuyệt vời. 


Ngay từ nhỏ anh chị em chúng tôi đã được ba vun đắp niềm tin mãnh liệt vào Chúa, ba nhắc nhở mọi người trong nhà đi nhà thờ đọc kinh, lần hạt, phải có lòng thương giúp đỡ người nghèo. Và những lời dạy của ba luôn đi kèm với hành động. Ba là người luôn có mặt ở nhà thờ trước, đi đâu ba cũng lần hạt, gặp người nghèo khi thì ba cho ít tiền, mời họ về nhà dùng bữa cơm. Tôi còn nhớ lần ba đưa về một bà cụ người đồng bào đi lạc, ba chăm sóc, cho ăn uống rồi bảo mẹ tôi đi lấy đồ áo cho cụ, cho cụ ngủ nghỉ ở nhà rồi ba lại tất tả chạy vào vùng dân tộc để tìm người thân cho cụ. Lần khác ba lại đưa về một người ăn xin mặc mặc kệ mùi hôi bốc ra từ người ăn xin đó, ba chuẩn chị giường ngủ, lo cơm ăn cho cụ. Mong ước của ba tôi luôn hướng về người nghèo. Nhà tôi chưa có tủ lạnh, máy giặt, anh chị bảo góp tiền để mua, ba tôi cản lại và nói: “Tụi bây lấy tiền đó cho ba, ba đưa người nghèo đi”. Thế là hết lần này đến lần khác, nhà tôi mới mua sắm được mấy thứ đó. 

Nhiều người bảo ba thích chuyện bao đồng, ba chỉ cười. Ba tôi làm bạn với những bợm nhậu, những người nghèo và những thành phần bất hảo. Ba bảo với tôi: “ Ba hòa nhập nhưng không hòa tan với họ”, ba lựa lời nói chuyện với họ, đôi khi chỉ là chuyện phiếm nhưng luôn nhắc nhở họ tu chí làm ăn. Ai nói gì mặc kệ, làm việc cho giáo hội, bị nhiều người hiểu lầm ba cũng chỉ biết im lặng và dâng tất cả cho Chúa. 

Vì lo chuyện “ bao đồng” nên ba cũng hay bị mẹ phàn nàn, trách móc nhưng ba “ mãi vẫn thế”. Tôi thương ba tôi! Nghĩ về ba là bao nhiêu kỷ niệm đầy yêu thương cứ ùa về, ba ít khi thể hiện tình cảm nhưng chỉ cần nhìn hành động của ba là tôi biết ba yêu chúng tôi đến nhường nào. Tôi làm sao quên được hình ảnh ba đứng chờ anh trai, rồi em trai ngoài cổng suốt đêm vì anh mải chơi chưa về. Ba nhiều đêm thức trắng vì lo cho chúng tôi, có những lần đợi chúng tôi ngủ, ba lại rón rén vừa cầm tràng hạt lần chuỗi vừa ngắm nhìn chúng tôi, kéo góc chăn đắp lại. Tôi giả vờ ngủ vì sợ ba giật mình. 


Rồi lúc tôi còn ở nhà, ba thường là người dậy nấu cơm nước cho chúng tôi. Ba nấu ăn rất ngon, những món ăn của ba đều mang một hương vị rất riêng đặc biệt. Những lần anh chị em chúng tôi về quê, ba lại là người đi đưa đón. Có lần ba chở tôi về, ba vòng tay ra sau ôm lấy tôi và bảo: “ Chui vào áo cho đỡ lạnh con”. Rồi trên đường về ba cố chạy chậm lại cho gió đỡ thổi buốt. 

 Năm tôi thi tốt nghiệp 12, khi kết thúc môn cuối cùng, ra tới cổng trường, ba đứng bên kia đường vẫn tay cho tôi. Tôi nhìn ba mà rưng rưng nước mắt, nhìn chiếc xe cà tàng với chiếc giỏ trên xe, thấy thương ba vô cùng. Ngồi lên xe, ba hỏi tôi thi cử thế nào, có mệt không? Tôi hỏi sao ba lại ra đây, ba bảo ba mới đi bán dứa rồi chờ con về luôn, lúc đó tôi đã khóc. 

Ngày còn nhỏ, tôi ít nói chuyện với ba, thâm chí là cố gắng trốn tránh mỗi khi có thể. Với trí óc non nớt tôi không đủ để hiểu được tình thương của ba dành cho tôi, thay vào đó tôi thường trách móc và hờn dỗi vì mỗi lần bị ba đánh, ba la. Đến khi lớn lên, rời khỏi gia đình để đi học xa, tôi mới cảm nhận được rõ rệt tình thương của ba dành cho tôi. 

Gia đình tôi có giai đoạn phải trải qua rất nhiều chuyện và ba là người gánh vác tất cả. Lần đầu tiên tôi thấy ba khóc đó là lúc chị cả mất, ba ôm chặt cỗ quan tài đau xót. Anh chị em tôi chỉ biết khóc, nỗi đau của chúng tôi không thấm với nỗi đau của ba. Mãi về sau này, mỗi lần ba nói chuyện với tôi lại nhìn ra khu vườn đầy cây trái và nhắc về chị cả. Tôi biết ba nhớ chị lắm.

Đối với anh chị em chúng tôi, ba không những là người ba đầy trách nhiệm mà còn là thầy dạy đức tin cho chúng tôi, là người bạn để mỗi khi chúng tôi mệt mỏi, lo lắng bất an, ba lại xuất hiện như vị cứu tinh, an ủi và động viên chúng tôi đặt niềm tin, phó thác vào Chúa.

Maria Hưởng Nguyễn
Nguồn: Bản tin online tháng 6/2018 của Ủy ban Giới trẻ và Thiếu nhi - Hội đồng Giám mục VN



Hỏi: Xin cho con hỏi, tại sao lại có nhiều tôn giáo cùng tồn tại đến như vậy, và giữa rất nhiều tôn giáo (Hội Thánh Đức Chúa Trời Mẹ gì đó cũng tự xưng là tôn giáo), làm sao chúng ta biết đâu là tôn giáo thật? Trước hàng loạt những vấn đề nhức nhối liên quan đến tôn giáo hiện nay, cha/thầy có suy nghĩ gì không? Con xin cảm ơn.



Trả lời:

Chào bạn,

Những nghiên cứu của lịch sử cho chúng ta biết rằng từ rất lâu, khi con người vừa xuất hiện, thì tôn giáo cũng đã ra đời. Ban đầu, có thể do hoàn cảnh tác động. Người xưa thấy mình quá nhỏ bé trước các sức mạnh của tự nhiên nên tự phong thần cho chúng (thần mây, thần mưa…). Nhưng khi trình độ hiểu biết của con người đã đạt đến những đỉnh cao vượt bậc, tôn giáo vẫn cứ tồn tại, và thể hiện ở một mức độ cao sâu hơn. Có không ít những nhà bác học, nghiên cứu khoa học đại tài là những người theo tôn giáo. Điều đó cho thấy, sự hiện diện của tôn giáo phản ánh một trực giác thiêng liêng của con người. Nó là cái ở bên trong con người bộc phát ra, chứ không phải bị áp đặt từ bên ngoài. Con người và niềm tin luôn đi đôi với nhau. Chẳng ai sống mà có thể không tin cái gì đó, kể cả những người tự xưng là vô thần.

Các nhà tâm lý học cũng đồng ý với nhau rằng nhu cầu tâm linh là một trong những nhu cầu của con người, và chính nó cũng là một trong những yếu tố làm cho con người khác với các giống loài khác. Trong tất cả các sinh linh hiện diện trên đời này, chỉ có con người là có tôn giáo. Hay nói cách khác, chỉ con người là có trực giác về một thế giới khác, vô hình, cao hơn mình, huyền nhiệm hơn mình, cái mà mình không thể chạm sờ trực tiếp bằng vật chất đơn thuần. Con người là loài duy nhất có thể tương tác với sự huyền bí thâm sâu vượt ra ngoài thế giới hữu hình. Bởi tôn giáo vốn dĩ gắn liền với những điều ta không thấy, nên ta vẫn thấy đâu đó những nhóm người giả danh tôn giáo, truyền dạy những điều sai lạc, làm ảnh hưởng đến thanh danh của những tôn giáo chân chính, đến cuộc sống của người khác và cũng đồng thời huỷ hoại cuộc sống của chính họ.

Vậy căn cứ vào đâu mà chúng ta có thể phân biệt giữa tôn giáo chân chính và tôn giáo giả tạo?
 Sẽ có nhiều tiêu chí, nhưng chắc là nhiều người sẽ đồng ý với ba điểm này.
Trước hết, một tôn giáo chân chính sẽ có một nền tảng giáo lý vững chắc, có căn cứ, được lý trí kiểm chứng, chứ không bao giờ chủ trương một kiểu giáo lý mơ hồ, sai lạc. Một tôn giáo chân chính không tự mình bịa ra giáo lý, nhưng lãnh nhận nó từ Thần của mình và chia sẻ nó với người khác trên cơ sở tôn trọng tự do của người đó, chứ không ép buộc họ phải tin giống mình.
Thứ đến, giáo lý đó, dù có thể có nhiều điểm huyền nhiệm khiến mình chưa thể hiểu hết, nhưng chắc chắn nó không bao giờ huỷ hoại cuộc sống hiện tại của tín hữu. Nó dạy người ta yêu thương nhau, phục vụ nhau, nối kết người ta với nhau trong tình thân ái, chứ không bao giờ gây chia rẽ hay thúc đẩy người ta đến chỗ đi ngược lại với luân thường đạo lý hay truyền thống tốt đẹp.
Cuối cùng, tôn giáo chân chính sẽ sinh ra những chứng tá sống động và tốt đẹp cho đời. Từ tôn giáo ấy, sẽ xuất hiện những con người với lối sống khiến người đời phải cảm phục vì những nhân đức anh hùng của họ. Đó là những con người đã sống giới luật yêu thương đến mức độ trỗi vượt, họ làm được những điều cao cả, phi thường qua cung cách hành xử và cuộc sống của họ luôn toát lên một niềm vui tự tâm, đồng thời cũng lan truyền nó đến cho người khác.

Trong thời gian gần đây, Giáo Hội và xã hội Việt Nam đối diện với nhiều cuộc tấn công, từ sức lan tràn gây biết bao thương tổn của cái gọi là Hội Thánh Đức Chúa Trời Mẹ, đến những tranh chấp đất đai tôn giáo, rồi cả những hoạt động nghệ thuật bị cho là xúc phạm đến tín ngưỡng của tín hữu Kitô giáo. Đây là điều chẳng ai mong muốn. Nhưng nếu nhìn một cách tích cực, ta có thể nói rằng cứ mỗi lần có biến động gì đó liên quan đến tôn giáo của mình, chúng ta lại được mời gọi để đọc lại đức tin của bản thân, xem mình đã sống đúng như những gì mình tin chưa. Lên tiếng (trong tinh thần đối thoại và tôn trọng nhau, chứ không phải chửi bới) để giúp người không hiểu biết chấn chỉnh lại hành vi không đúng của mình là điều cần thiết, nhưng ở một phương diện nào đó, chính nó cũng giúp ta soi lại mình. Chúng ta không thích người khác xúc phạm đến Thiên Chúa, còn mình, mình đã có thái độ đúng dành cho Thiên Chúa của mình chưa? Người ta đem biểu tượng Thánh Giá của mình ra bỡn cợt, còn mình, mình có hiểu và sống ý nghĩa của Thánh Giá Chúa trong cuộc đời mình chưa? …

Những vấn đề mà chúng ta đang gặp phải giúp người Kitô hữu nhận ra rằng mình cần sống đức tin của mình một cách sâu sắc hơn, chứ không chỉ ở bề mặt. Đi lễ, đọc kinh, lần chuỗi… là cần thiết nhưng nó phải giúp mình đi vào tương quan gắn kết với Chúa, đưa mình đến gần Chúa, từ đó mình được biến đổi để mỗi ngày nên giống Chúa hơn. Việc giữ đạo phải giúp chúng ta có con tim mềm mại hơn, biết yêu nhiều hơn, đối đãi tốt với người khác hơn. Nếu không, nó chỉ là những điều vô ích. Vì tôn giáo là một nhu cầu thiết yếu và không thể xoá bỏ, nên dù nó có bị đàn áp thế nào, nó vẫn sẽ tiếp tục tồn tại như lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy. Những tôn giáo không chân chính ắt sẽ sớm bị diệt vong, vì nó không tìm thấy đất sống cho mình. Còn nếu mỗi người Kitô hữu có thể hiểu và sống được giáo lý tốt đẹp mà Đức Giêsu đã truyền lại thì tính chân chính là của tôn giáo mình sẽ được củng cố và thừa nhận nhiều hơn. Người khác nhìn vào sẽ được thu hút và muốn noi theo.
Thiết tưởng rằng đây là một hành vi truyền giáo hữu hiệu và tuyệt vời nhất, và cũng là điều mà Đức Giêsu đã truyền dạy chúng ta phải làm trước khi Ngài về trời.

Thân ái,

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
Nguồn: dongten.net


THƯ GỬI CON, CON YÊU! 


Ba sẽ là cánh chim, đưa con đi thật xa Mẹ sẽ là cành hoa, cho con cài lên ngực Ba mẹ là lá chắn, che chở suốt đời con 
Con yêu, thấm thoát con đã được 3 tháng tuổi rồi đấy. Vậy mà ba cứ ngỡ ngày con sinh ra chỉ mới hôm qua hôm kia thôi. 

Mọi chuyện thật nhiệm mầu. Ba và mẹ con cưới nhau được vài tháng thì mẹ báo cho ba biết là đã có thai. Lúc ấy ba đang bưng tô cơm để ăn, thế mà nghe tin báo ba chỉ muốn quăng tô cơm đi để chạy đến ôm lấy con và mẹ. 

Đêm ấy, ba và mẹ dâng ngay những lời Tạ ơn lên Chúa, dâng những tràng chuỗi Môi Khôi tạ ơn Mẹ. Lòng ba mẹ ngỡ ngàng, tràn ngập bao niềm vui. Nhưng rồi niềm vui kéo theo những lo lắng... 

Ba bắt đầu lo nghĩ về những điều sắp tới, mẹ bắt đầu mệt mỏi vì những thay đổi trong thai kỳ. Bao lo lắng, bao suy tư tràn về. Nhưng ba nghĩ, con là món quà Nhiệm Mầu mà Chúa đã thương ban cho ba. Bao nhiêu hồng ân Chúa đã ban cho gia đình bé nhỏ của mình. Ba đâu phải là người đạo gốc đâu, ba chỉ được rửa tội vào tuổi 26. Nhưng may sao, Chúa thương ba, bao nhiêu kỳ diệu, Chúa đã bên ba, cho ba được gặp mẹ con, và có con. Ba thầm nghĩ, ba có là ai đâu, có tài cán gì đâu, lại còn đầy tội lỗi, hàng ngày sống trong bao nhiêu cám dỗ, bao nhiêu là sa ngã, vấp phạm. Nhưng ... Chúa chưa ngày nào bỏ rơi ba. 

Khi làm cha rồi, ba học được cách chăm lo nhiều hơn cho gia đình, ba nhận ra rằng, cuộc sống của ba bây giờ không chỉ là 1 nữa mà là sống cho cả nhà, cả gia đình. Mỗi suy tính trong cuộc sống, mọi đam mê hay sở thích cá nhân, ba tự nguyện gác lại. Vì ba muốn dành cho con và mẹ những điều tốt nhất ba có thể làm. 

Ba bắt đầu học cách chăm sóc mẹ trong thai kỳ, chia sẻ với mẹ việc nhà, quan tâm theo dõi sức khoẻ của con trong bụng mẹ. Ba lên mạng tìm hiểu rồi hỏi han đủ điều, cứ như lúc ấy ba có thể trở thành một nhà tư vấn sức khoẻ bà mẹ và trẻ em vậy đó. 

Nhưng rồi một ngày kia, bác sĩ bảo con quấn dây rốn, lòng ba quặn lại, lo lắng. Ba lo sợ con sẽ có chuyện gì. Tâm trạng ba rối bời. Lúc ấy, thật ba chẳng còn biết phải làm sao. Ba nhìn lên ảnh Chúa, đó là tấm ảnh Lòng Thương Xót Chúa mà ba treo trong phòng. “Chúa ơi, xin Chúa cứ trách phạt con vì những điều tội lỗi, những bất hoàn của con lên con, Nhưng xin Chúa đoái thương đến con của con, là món quà mà Hồng ân Chúa đã ban cho gia đình con. Khó khăn vất vả nào, con cũng gánh nhưng xin Chúa đừng bỏ rơi gia đình con trong tuyệt vọng, đau khổ.” Ba cứ nhẩm đi nhẩm lại, đến những lúc đi làm ba vẫn lẩm nhẩm, vẫn nghĩ. Và Chúa đã thương nhận lời, con lại bình an. 


Tưởng đâu mọi thử thách đã hết, đến những ngày gần sanh, bác sĩ lại bảo con chưa xoay đầu, nếu chưa xoay là phải mổ. Ba lại lo lắng, lần này ba lại lo thêm cho mẹ. Ba không tiếc gì, ba chỉ mong sao con và mẹ bình an, mạnh khoẻ. Và ba lại nài xin Chúa, Đức Mẹ... 

Cứ như vậy, bao nhiêu trắc trở, cả nhà ta cùng nắm tay để vượt qua, có những lúc mệt mỏi vô cùng, có những lúc căng thẳng, nhưng ba cảm nhận được rằng, Thiên Chúa, Đấng giàu lòng Thương xót, luôn đoái thương đến gia đình mình. 

Ngày sinh con ra, trong phòng sinh cùng mẹ con, ba chứng kiến được những khó khăn, đau đớn, ba trải qua những giây phút căng thẳng, sợ hãi. Ba đã cùng mẹ con vượt cạn. Lúc tiếng khóc con vang lên, ba khóc. Ba đã khóc. Ba khóc vì mẹ con đã bình an, ba khóc vì con đã chào đời mạnh khoẻ. Ba làm dấu Tạ ơn Chúa ngay giữa phòng sinh. Ba cảm thấy Chúa đang ôm lấy ba, Người cùng khóc với ba, ba cảm thấy Đức Mẹ đang xoa đầu ba, Mẹ mỉm cười chúc phúc. 


Cuộc sống gia đình bỗng đẹp rực rỡ như bông hoa hồng đang nở. Nhưng làm sao yên ả mãi được, những mệt mỏi, căng thẳng cũng làm cho ba mẹ cãi nhau. Mẹ con mệt và mất sức, căng thẳng. Ba thì nặng nề bởi công việc, bởi áp lực chăm lo gia đình. Ba mẹ cãi nhau. Nhưng khi nhìn đến con, ba khóc, ba xấu hổ vì mình vẫn còn khiếm khuyết, ba xấu hổ vì ba không làm tròn bổn phận, ba xấu hổ vì ba còn để cái tôi của mình quá lớn. Và con, lại hàn gắn ba mẹ. Con làm cho ba mẹ nhận ra mình cần phải hoàn thiện thêm mỗi ngày để mang lại hạnh phúc cho con và gia đình. 

Bàn tay Chúa khéo sắp đặt mọi chuyện con à. Những lúc khó khăn, vất vả trong gia đình. Những giây phút “chén dĩa xô nhau”, Chúa lại để con lên tiếng để ba mẹ biết nhận ra những điều chưa đúng. Ngày rửa tội cho con, ba quyết chọn Tên Thánh Gioan Phaolo II làm Thánh bổn mạng cho con. Ngài là Đức Giáo hoàng của Lòng Thương Xót, ba ước mơ, Lòng Thương Xót của Chúa sẽ phủ đầy trên con, trên những bước đường con sẽ đi, những nơi con sẽ đến. Và ba cũng muốn nhắn nhủ rằng, chính nhờ Lòng Thương xót của Chúa mà gia đình ta nên trọn vẹn từng ngày. Ba ước ao, con của ba cũng trở nên chứng nhân mạnh mẽ của Lòng Thương xót. 

Có nhiều người từng nghĩ, sống đời sống gia đình có gì đâu ghê gớm, hay đời sống gia đình không quan trọng trọng bằng đời thánh hiến. Nhưng ba đồng ý sống đời gia đình rất dễ. Tuy nhiên, để đi trọn hết con đường ơn gọi gia đình đầy đủ, mấy ai dám đi hết qua những chông gai thử thách. Ba sợ, sợ rồi ba cũng sẽ gục ngã nhưng... “Chúa không bao giờ từ bỏ”.

Phanxicô Nguyễn Lâm Trấn An 
Nguồn: Bản tin online tháng 6/2018 của Ủy ban Giới trẻ và Thiếu nhi - Hội đồng Giám mục VN


“Chúa ơi hồn con, xin phó thác trong tay Chúa luôn, những khi vui mừng, hoặc những lúc con đau buồn. Mỗi khi đời con gặp những nỗi lo âu khó khăn, và mỗi khi tim con ngập tràn hạnh phúc xin dâng Người.” (Phó thác - Kiều Linh).

Vâng, đây là bài hát nói về sự phó thác nơi Thiên Chúa cả những lúc vui cũng như khi buồn, khi chán nản mỏi mệt hay thất vọng, khi gặp cơn gian nan và thử thách. Phó thác không có nghĩa là bỏ mặc không cố gắng, không quan tâm, để Chúa lo tất cả. Nhưng là sự cố gắng nỗ lực của bản thân để cộng tác với ơn Chúa ban.

Khi nói đến sự phó thác, hầu hết các thánh đều là mẫu gương phó thác cuộc đời trong tay Chúa, để Ngài sử dụng như một khí cụ. Và mẫu gương thân quen nhất nói về sự phó thác đó chính là Đức Mẹ Maria “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Sứ thần nói” (Lc 1,37). Lời này được thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ nhưng đó chính là ý muốn của Thiên Chúa. Và Mẹ đã mau mắn đón nhận dù rằng lời nói đó Mẹ chưa hiểu được hết. Mẹ vẫn âm thầm cầu nguyện và phó thác dâng mọi sự trong tay Chúa.

Một mẫu gương về nói về sự cầu nguyện phó thác cũng rất gần gũi - đó là thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu- vị thánh của tình yêu. Ngài đã dâng lên cho Chúa tất cả những hi sinh thường ngày. Nhìn vào những công việc tưởng chừng như nhỏ bé nhưng Ngài đã đặt vào đó một tình yêu lớn lao và vĩ đại. Như trong nhật kí của chị đã viết:
“Phần con, con vẫn một lòng quả cảm muốn làm đại thánh. Con không cậy công con, có đâu mà cậy; con hoàn toàn cậy trông ở Chúa là sức mạnh, là chính sự thánh thiện. Những cố gắng nhỏ nhặt của con cũng làm Chúa vui lòng. Người sẽ nâng đỡ con lên tới Người, Người sẽ lấy công nghiệp cực trọng Người mà bù đắp cho con. Người sẽ làm cho con nên thánh.” (Truyện Một Tâm Hồn).

Một khi đã phó thác mọi sự cho Thiên Chúa, Ngài không chối bỏ ai bao giờ. Tôi đã cảm nhận rõ điều đó khi tôi chuẩn bị kì thi trung học phổ thông quốc gia vừa rồi. Lúc đó tôi rất lo lắng vì mình là thí sinh tự do không đi ôn ở trường, năm nay quy chế thi lại đổi mới nữa. Tôi thầm nói với bản thân: “không biết mình có thi đậu hay không nữa?”. Đây là niềm hi vọng của gia đình cũng như người thân của tôi, có lẽ tôi sẽ làm họ buồn và thất vọng khi không vượt qua kì thi này.

Song, nỗi lo lắng không dừng ở đó, tôi không mua được hồ sơ vì trên vùng Sài Gòn không bán và nhận hồ sơ nữa. Một cảm giác hụt hẫng làm cho tôi hoang mang khi nhìn lại bao nhiêu cố gắng, công sức và cả niềm hi vọng của mình bấy lâu đã tiêu tan.

Khi đó, tôi chỉ biết chạy lên nhà nguyện quỳ dưới chân thập giá Chúa òa khóc như một đứa con nít. Tôi vừa cầu nguyện vừa thầm trách móc: “tại sao Chúa lại bỏ con” nhưng Chúa vẫn im lặng một cách đáng sợ.

Sau khi tôi lấy lại bình tĩnh để cầu nguyện với Chúa: “Lạy Chúa con phó thác mọi sự trong tay Chúa, xin hãy làm cho con như ý Ngài”, cũng trong lúc đó tôi vô tình mở sách 1001 câu châm ngôn các thánh có câu: “Bao lâu con còn cầu nguyện, thì cứ yên lòng: Chúa vẫn còn thương con” (Thánh Augustinô), Tôi như tìm được sự an ủi và niềm hi vọng. Đúng là ý Chúa, tôi gọi điện thoại về nhà bạn tôi ở quê, bạn ấy nói với tôi vẫn còn một ngày để làm hồ sơ dự thi. Tôi nhảy lên và vui sướng tạ ơn Chúa vì Ngài vẫn thương tôi, vẫn ở bên tôi. Rồi kì thi trôi qua tôi đã đạt được những mong ước của mình. Tôi nhận ra rằng không có điều gì ngoài ý muốn của Thiên Chúa, chỉ cần chạy đến cầu nguyện phó thác trong tay Chúa, Ngài sẽ không bao giờ bỏ rơi ta.

Có những lúc tôi không tránh được sự nản lòng khi cầu nguyện với Chúa vì cảm thấy Ngài im lặng, thờ ơ trước nỗi phiền muộn mà tôi đang mang. Chính những lúc như vậy tôi cần phải chờ đợi, cầu nguyện, phó thác và tin tưởng vào Chúa nhiều hơn: “không có Thầy các con không thể làm được việc gì” (Ga 15,5). Vì tự bản thân tôi không làm được điều gì cả nếu không có ơn Chúa và sức mạnh của Ngài.

Qua kinh nghiệm của tôi trong việc cầu nguyện phó thác mọi sự trong tay Chúa, tôi mong ước các bạn cũng hãy đặt hết niềm tin vào Chúa, cầu nguyện với Chúa luôn mãi dù lúc buồn vui, khó khăn, gian nan hay thử thách, để Chúa dẫn bước chúng ta trên đường đời. Cũng có lúc ý của ta Chúa không thực hiện, nhưng hãy tin rằng Chúa đang muốn thực hiện cho mình những điều tốt hơn điều ta đang cầu xin. Hãy cứ cầu nguyện vì: “Ðối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể” (Mt 19,26)

“Lạy Chúa Giêsu,
Xin dẫn dắt con từ cõi chết đến cõi sống,
Từ lầm lạc đến chân lí.
Xin dẫn đưa con từ tuyệt vọng đến hi vọng,
Từ sợ hãi đến sự thật,
Xin dẫn đưa con từ ghen ghét đến yêu thương,
Từ chiến tranh đến hòa bình.
Xin đổ đầy bình an nơi tâm hồn chúng con,
Thế giới và vũ trụ chúng con,
Bình an, bình an, bình an.”

( Thánh Têrêsa Calcutta)

Anna’KS

Giải Viết Văn Đường Trường

[Giải Viết Văn Đường Trường][fbig1]

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget